Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức về môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức về môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Hỏi đáp về kết quả phân tích dải nước đỏ ở Hà Tĩnh


Sau khi Green Trees công bố kết quả phân tích độc lập dải nước đỏ ở Hà Tĩnh (ngày 11/3), chúng tôi đã nhận được phản hồi và thắc mắc của nhiều bạn đọc. Green Trees cảm ơn tất cả và xin có lời giải đáp cho một số câu hỏi, như dưới đây.


1. “DẢI NƯỚC ĐỎ Ở HÀ TĨNH” LÀ HIỆN TƯỢNG GÌ?

Trong hai ngày 19/1 và 18/2/2017, tại khu vực cảng Vũng Áng và đê chắn sóng cảng Sơn Dương (tỉnh Hà Tĩnh), xuất hiện nhiều dải nước màu đỏ hồng.

Sáng 23/2, một dải nước màu đỏ hồng cũng đã xuất hiện tại vùng biển xã Kỳ Hà, thuộc Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

Ngày 24/2, xuất hiện dải nước đỏ tại khu vực bán đảo Sơn Trà (quận Sơn Trà, Đà Nẵng).

Kỳ Anh là nơi đặt nhà máy sản xuất thép của Công ty TNHH Gang Thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS). Cảng nước sâu Sơn Dương là một trong các công trình lớn do FHS đầu tư ở Hà Tĩnh.

Hà Tĩnh là một trong bốn tỉnh chịu thiệt hại nặng nhất trong thảm họa môi trường biển miền Trung năm 2016.

2. CƠ QUAN CHỨC NĂNG ĐÃ CÓ GIẢI THÍCH GÌ VỀ HIỆN TƯỢNG NÀY?

Kết quả phân tích mẫu nước biển tại cảng Vũng Áng và cảng Sơn Dương của Viện Công nghệ Môi trường và Viện Tài nguyên - Môi trường biển Hải Phòng cho thấy hàm lượng Ammonia trong nước biển tại cảng Vũng Áng và cảng Sơn Dương cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép, phenol trong một mẫu nước biển gần bờ vượt 10,3 lần cho phép (quy định trong Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ). Các thông số khác đều đạt quy chuẩn cho phép.

Khoảng ngày 20/2, chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) trích lời người dân địa phương (Hà Tĩnh) lý giải về dải nước đỏ: “Đó là hiện tượng tự nhiên, bình thường… xuất phát từ… con cá trích xuất hiện trên mé nước”. VTV cũng nói thêm, hàm lượng Ammonia cao là do nguồn nước ở đây “bị ô nhiễm hữu cơ”.

Báo cáo của Bộ Tài nguyên – Môi trường, được các báo trích dẫn ngày 1/3, cho rằng nguyên nhân của các dải nước đỏ xuất hiện trong hai ngày 19/1 và 18/2 là do sự bùng phát (tàn lụi, hoặc nở hoa) của một loài tảo biển, tảo Noctiluca Scintillans.

Tờ Thanh Niên viết rằng tảo Noctiluca Scintillans khi tàn lụi sẽ giải phóng ra Ammonia ở nồng độ cao trong môi trường nước, còn VnExpress viết rằng đó là do tảo nở hoa.

Trong một diễn biến khác, Tuổi Trẻ đưa tin Chi cục Bảo vệ Môi trường Đà Nẵng vào ngày 26/2 đã xác định vệt nước đỏ ở Sơn Trà là do trứng ruốc gây ra.

3. CÒN KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỘC LẬP CỦA GREEN TREES NHƯ THẾ NÀO?

Kết quả phân tích của Green Trees cho thấy: Dải nước đỏ ở Hà Tĩnh là do nước thải công nghiệp gây ra, với một số các hàm lượng như COD, Phenol, Nitro cao bất thường.

Một vài thông số vượt chuẩn cần lưu ý:

+ COD -> 2640. Mẫu có màu hồng phớt và mùi ngọt ngái đặc trưng của dung môi công nghiệp. Chúng tôi sẽ sớm xác định cụ thể loại chất độc này.‎

+ Phenol -> 1,68, cao gấp hơn ba lần cho phép so với tiêu chuẩn xả thải của công nghiệp thép (0,5), và gấp 56 lần cho phép so với tiêu chuẩn nước biển (0,03).

+ Các chỉ số kim loại nặng cũng cao bất thường, khẳng dịnh đây là chất thải từ hoạt động công nghiệp.‎

4. NHƯ VẬY, KẾT LUẬN CỦA GREEN TREES LÀ GÌ?

Là mẫu nước biển có chứa phenol, và với hàm lượng rất cao.

5. PHENOL LÀ GÌ, CÓ NGUY HIỂM KHÔNG?

Phenol và các dẫn chất như cresyl (acid cresylic) là những chất rất thông dụng trong công nghiệp (hóa hữu cơ, chất dẻo, hóa dược) và dễ tẩy uế, sát khuẩn (dung dịch 1%). Ngộ độc cấp xảy ra do uống dung dịch đậm đặc với mục đích tự tử hoặc do uống nhầm.
Phenol là HCHC có tính rất độc, gây bỏng nặng khi rơi vào da.

Phenol và các dẫn xuất của phenol là các chất độc hại gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và mọi sinh vật sống.

Trên góc độ môi trường, phenol và các dẫn xuất của phenol được xếp vào loại chất gây ô nhiễm. Đây là nhóm tương đối bền, có khả năng tích lũy trong cơ thể sinh vật và có khả năng gây nhiễm độc cấp tính, mãn tính cho con người.

Khi xâm nhập vào cơ thể, các phenol nói chung và Clophenol nói riêng gây ra nhiều tổn thương cho các cơ quan và hệ thống khác nhau nhưng chủ yếu là tác động lên hệ thần kinh, hệ thống tim mạch và máu.

Liều nguy hiểm: 2 - 5gram. Liều gây chết: trên 10gram. Tác dụng ăn mòn.

6. CÓ Ý KIẾN CHO RẰNG TẢO CHỨA PHENOL NHIỀU HƠN NƯỚC BIỂN VÀI LẦN LÀ CHUYỆN BÌNH THƯỜNG?

Hàm lượng phenol trong mẫu nước biển mà Green Trees phân tích cao gấp 56 lần so với tiêu chuẩn cho phép, không phải “vài lần”.
Việc cho rằng tảo Noctiluca Scintillans là nguyên nhân gây ra dải nước đỏ cũng chỉ là một giả thiết và chưa được chứng minh thỏa đáng. Tảo này có thể làm nước biển đỏ như màu máu, và những đợt bùng phát của tảo thường là do gặp phải điều kiện nước biển lạnh, bề mặt chứa nhiều chất dinh dưỡng (theo một bản tin của Thanh Niên, trích dịch từ AFP). Điều kiện nước biển ở Hà Tĩnh không chắc có thể làm tảo Noctiluca Scintillans nở hoa.

Ngoài ra, môi trường biển luôn có sự dịch chuyển do sóng mạnh, không tĩnh như trong một hồ nước, nên các chất đều dễ phân tán, khó có chuyện cô đặc lại ở một vài điểm. (Tuy thế, hàm lượng phenol lại vẫn cao một cách bất thường; điều này cần được làm rõ nguyên nhân).

Liên quan đến vụ “tảo nở hoa”, Tiến sĩ công nghệ hóa Phạm Quang Tuấn (Úc) cũng đã chỉ ra một số điểm bất hợp lý, chẳng hạn:

+ Số liệu trên trang web của Bộ Tài nguyên-Môi trường cho thấy ammonia ở vùng biển Đà Nẵng vẫn bình thường (dưới 0,5 miligram/l) dù nơi đây có mật độ tảo tương tự như nước biển Hà Tĩnh. Vì vậy nói “hiện tượng [tảo] này rất phù hợp với kết quả phân tích chất lượng nước biển [Hà Tĩnh]” như Bộ là không chính xác.

+ Ammonium và ammonia là hợp chất của nitro (N) và hydro (H). Ammonium (NH4+) là dạng ion và ammonia (NH3) là dạng phân tử, đây chỉ là hai dạng của cùng một chất chuyển đổi từ dạng này qua dạng khác tùy theo pH, nhiệt độ. Ammonia là ammonium chuyển đổi sang. Muốn có ammonium thì phải có nguồn nitro. Tuy nitro có trong khí trời, tảo (cũng như hầu hết các sinh vật khác) không thể dùng khí đó để tạo ra ammonium mà phải lấy từ nitro cố định (fixed nitrogen), như nitrate và ammonia. Vậy, dù có tảo hay không có tảo, nồng độ ammonium cao có nghĩa là có những nguồn nitro cố định cao tương tự. Tảo chỉ có chức năng dự trữ hay biến nitro cố định từ dạng này sang dạng khác chứ tự nó không thể tạo ra nitro cố định (như ammonium). Nói cách khác, tảo chỉ là TRIỆU CHỨNG hay HẬU QUẢ của nồng độ nitro cố định cao chứ KHÔNG PHẢI LÀ NGUYÊN NHÂN.

+ Màu đỏ có thể là do tảo (mà cũng có thể vì lý do khác), nhưng tảo chỉ là HẬU QUẢ CỦA Ô NHIỄM NITRO gây ra môi trường thuận tiện (nitro cố định chính là chất đạm dùng để bón cây) chứ không phải là nguyên nhân.

7. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN LẤY MẪU CỦA GREEN TREES?

Công việc lấy mẫu đã gặp nhiều khó khăn, thậm chí nguy hiểm, do sự cản trở từ phía cơ quan chức năng địa phương. Vì lý do an toàn cho những người dân địa phương đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình lấy mẫu, Green Trees không thể công bố cụ thể địa điểm và thời gian lấy mẫu.

Tuy nhiên, có thể xác nhận rằng việc lấy mẫu đã được tiến hành trong tháng 2 và công tác xét nghiệm, phân tích bắt đầu vào đầu tháng 3.

Chúng tôi kêu gọi sự hỗ trợ của cộng đồng khoa học trong và ngoài nước. Bất kỳ bạn đọc có chuyên môn nào, nếu muốn tham gia cùng Green Trees và cần có thông tin cụ thể về quy trình, địa điểm, thời gian lấy mẫu, xin vui lòng liên hệ qua tin nhắn riêng (private message) gửi vào trang facebook của Green Trees hoặc về địa chỉ: [email protected]

8. TÊN VÀ ĐỊA CHỈ CƠ QUAN XÉT NGHIỆM?

Tương tự, vì lý do an toàn cho đơn vị xét nghiệm (độc lập), chúng tôi rất tiếc không thể công bố tên và địa chỉ đơn vị này.

Green Trees chịu trách nhiệm về độ chính xác của quy trình lấy mẫu, xét nghiệm, phân tích.

9. CHI PHÍ CHO VIỆC NÀY LẤY TỪ ĐÂU?

Chi phí cho việc xét nghiệm là gần 10 triệu đồng, do các thành viên của Green Trees tự đóng góp.

10. “ĐỘNG CƠ” CỦA XÉT NGHIỆM ĐỘC LẬP NÀY?

Không có động cơ nào ngoài sự mong muốn thực hiện hai sứ mệnh của Green Trees:

1. Bảo vệ môi trường và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội;

2. Thúc đẩy minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cấp chính quyền trong hoạt động bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong sạch của người dân Việt Nam.

* * *

Nhân đây, Green Trees cũng xin phép đặt câu hỏi ngược lại với một số bạn đọc, như sau:

- Vì sao khi báo cáo công bố ngày 1/3/2017 của Bộ Tài nguyên-Môi trường cũng xác nhận phenol có hàm lượng vượt 10,3 lần cho phép, các bạn đã không có ý kiến, không có phản biện gì?

- Vì sao các bạn không chủ động thực hiện việc lấy mẫu và gửi đi xét nghiệm độc lập?

Chúng tôi tin rằng bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự minh bạch và trách nhiệm của nhà nước trong quản trị là trách nhiệm của tất cả chúng ta – những người dân Việt Nam. Mọi sự nghi ngờ, chính trị hóa việc thực hiện trách nhiệm này đều cho thấy thái độ không thiện chí, không tốt cho công cuộc chung.

Greentrees công bố kết quả xét nghiệm dải nước đỏ ở Hà Tĩnh



Công bố kết quả phân tích dải nước đỏ tại Hà Tĩnh
(bảng phân tích độc lập do Green Trees thực hiện)

Hiện tượng này xuất hiện cách đây khoảng 1 tháng ở Hà Tĩnh giờ có lẽ đang chìm dần vào quên lãng. Một hiện tượng gây lo ngại trong số đông người dân mà như báo Thanh Niên mô tả là "mé nước", rồi báo VNExpress gọi là "tảo bùng phát", Dân Trí thì có cái tên kêu hơn "tảo nở hoa". Vậy chung quy nó chứa cái gì?

Rất xin lỗi mọi người vì phải đến hôm nay mới nhận được bản kết quả xét nghiệm, để lấy được mẫu và tìm được nơi chấp nhận làm cũng rất là khó khăn và nguy hiểm.

Vệt nước đỏ đó đã được xác định là do nước thải công nghiệp gây ra, với một số các hàm lượng như COD, Phenol, Nito cao bất thường. Chi tiết các bạn có thể xem ở hình dưới, những thông số vượt chuẩn cần lưu ý như sau:

1. COD -> 2640

Cùng với màu hồng phớt & mùi ngọt ngái đặc trưng của dung môi công nghiệp. Chúng tôi sẽ sớm xác định cụ thể loại chất độc này.‎

2. Phenol -> 1,68

- Tiêu chuẩn xả thải CN Thép: 0,5 (cao hơn gấp 3 lần cho phép) (**)
- Tiêu chuẩn nước biển: 0,03 (cao gấp 56 lần cho phép).

3. Các chỉ số kim loại nặng cũng cao bất thường, khẳng dịnh đây là chất thải từ hoạt động công nghiệp.‎

Xin cảm ơn những người dân và một số bạn khác đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình lấy mẫu và xét nghiệm.

(Để đảm bảo thông tin bảo mật, một số vị trí trên ảnh chụp bảng kết quả xét nghiệm chúng tôi đã làm mờ. Rất mong các bạn thông cảm!)

----

(**) Phenol và các dẫn chất như cresyl (acid cresylic) là những chất rất thông dụng trong công nghiệp (hoá hữu cơ, chất dẻo, hoá dược) và dễ tẩy uế, sát khuẩn (dung dịch 1%). Ngộ độc cấp xảy ra do uống dung dịch đậm đặc với mục đích tự tử hoặc do uống nhầm.

Phenol là HCHC có tính rất độc, gây bỏng nặng khi rơi vào da.

Phenol và các dẫn xuất của phenol là các chất độc hại gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người và mọi sinh vật sống.

Trên góc độ môi trường phenol và các dẫn xuất của phenol được xếp vào loại chất gây ô nhiễm. đây là nhóm tương đối bền, có khả năng tích luỹ trong cơ thể sinh vật và có khả năng gây nhiễm độc cấp tính, mãn tính cho con người.

Khi xâm nhập vào cơ thể các phenol nói chung và Clophenol nói riêng gây ra nhiều tổn thương cho các cơ quan và hệ thống khác nhau nhưng chủ yếu là tác động lên hệ thần kinh, hệ thống tim mạch và máu.

Liều nguy hiểm: từ 2 - 5gam. Liều gây chết: trên 10gam. Tác dụng ăn mòn tại chỗ và ức chế chuyển hoá.







Rất bổ ích cho con của bạn




Group "Gia đình em yêu thiên nhiên Việt Nam" là một group khá đặc biệt dành cho những người yêu thiên nhiên, mong muốn có những trải nghiệm với thiên nhiên. Đối tượng được thụ hưởng chủ yếu là trẻ em và phụ huynh đi kèm (nếu có).

Những chương trình chính gồm có :
  • Cứu hộ rùa biển
  • Tìm hiểu thiên nhiên ở các vườn quốc gia ( Cát Tiên, Bù Gia Mập, BIDOUP )
  • Em trồng cây vì thiên nhiên Việt Nam.
  • Ngày khoa học dã ngoại
  • Bé vẽ tranh về thiên nhiên



Đặc biệt, một nhóm đối tượng khác cũng được phục vụ bởi các chương trình trên của group: trẻ tự kỷ. Điều này sẽ giúp các trẻ tự kỷ sẽ hòa nhập tốt hơn với cộng đồng thay vì sống khép kín.

Chương trình này là do ông (anh) Phùng Mỹ Trung- một nhà nghiên cứu khoa học thực hiện. Hơn 20 bài báo khoa học quốc tế, chục loài mới được khám phá, và vô số chuyến đi vì trẻ em bởi ông (anh) Phùng Mỹ Trung này thiết nghĩ đủ yên tâm về chuyên môn.

Anh chị em nào có con cháu (từ 3 tuổi) muốn tham gia hay chính bản thân cũng tham gia xin liên hệ mình. Công ty, tập đoàn nào cho con em nhân viên muốn chăm lo, always welcome.

Mọi chi tiết xin liên hệ:

Mai Quốc Ấn - 0966662829

[email protected]










Link group: https://m.facebook.com/groups/1682663055302182






- Nhà báo Mai Quốc Ấn -

Quy hoạch nhiệt điện tới 2030 - Nỗi kinh hoàng của môi trường sống







Từ năm 2016 đến năm 2030, Việt Nam sẽ có thêm 80 nhà máy* nhiệt điện, với tổng công suất 45.895MW

Riêng Vũng Áng sẽ có thêm 9 tổ máy, với công suất 4.100MW.

Ai cũng biết nhiệt điện, đặc biệt là nhiệt điện đốt than nguy hại như thế nào đối với môi trường không khí, cũng như môi trường nước, môi trường đất của một quốc gia. Chính vì vậy đa phần các quốc gia hiện nay đã và đang giảm thiểu số lượng các nhà máy nhiệt điện và tăng tỷ trọng các nhà máy điện tái tạo trong quy hoạch tổng thể.

Vậy, với Việt Nam thì sao? Chúng ta quy hoạch gì cho chính tương lai của chúng ta?

Ngày 18/3/2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020, xét đến 2030 (gọi tắt là quy hoạch điện 7). Theo đó, từ năm 2016 tới năm 2030, cả nước sẽ có thêm 80 nhà máy nhiệt điện, tổng công suất thiết kế lên tới 45.895MW – chiếm tỷ trọng 48% trong tổng số 96.062MW công suất phát điện được phê duyệt. Trong khi đó tính đến 2030, tổng công suất dành cho năng lượng tái tạo (đã bao gồm cả thủy điện nhỏ, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, …) chỉ là 25.727MW, chiếm 27% tổng công suất phát điện. Như vậy, trong quy hoạch dài hạn của quốc gia tới năm 2030, 73% nguồn năng lượng phục vụ cho nhu cầu cả nước sẽ đến từ nhiệt điện và các nguồn không tái tạo khác.

Đặc biệt, riêng tại khu vực Vũng Áng, sẽ có thêm 9 nhà máy* đi vào hoạt động từ năm 2016 (chưa kể các nhà máy đã hoạt động từ 2015 trở về trước).

Đây là một bản quy hoạch kinh hoàng cho môi trường Việt Nam, khi trung bình, cứ mỗi năm sẽ có thêm 5,33 nhà máy* nhiệt điện ra đời.

Để các bạn dễ hình dung, thì so sánh với nhiệt điện Vũng Áng 1 lớn nhất Việt Nam, công suất 1,200MW, thì từ năm 2016 tới 2030 chúng ta sẽ có thêm hơn 38 nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 nữa được xả khói trên khắp cả nước.
Một con số khủng khiếp với môi trường sống, và tương lai của chúng ta!

(*): Nhà máy: Bao gồm các nhà máy riêng lẻ và các nhà máy cùng tên nhưng được đầu tư theo nhiều giai đoạn.
 

Lựa chọn cách ứng xử với môi trường


Năm 2016 là năm ghi nhận nhiều thảm họa môi trường, điều ấy như một lời cảnh tỉnh về cách lựa chọn của chúng ta đối với việc phát triển kinh tế xã hội trong cả một giai đoạn dài. Lúc này, thay vì chỉ chú trọng vào mục tiêu tăng trưởng, Việt Nam cần hành động quyết liệt để biến những cam kết phát triển bền vững trở thành hiện thực, bắt đầu từ lựa chọn cách ứng xử với môi trường.


Môi trường đã quá ngưỡng chịu đựng



Năm 2016 là một năm ghi nhận nhiều sự cố về môi trường, trong đó có sự cố xả thải, gây ô nhiễm biển nghiêm trọng ở bốn tỉnh miền Trung của công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Thực trạng nhức nhối hiện nay có bắt nguồn từ việc, trong suốt thời gian dài, chúng ta ứng xử với môi trường thiếu sự tôn trọng, thậm chí có thời điểm, có nơi còn vắt kiệt môi trường để phục vụ cho mục tiêu thoát nghèo và “đốt cháy giai đoạn” tăng trưởng kinh tế. Vậy nên, có thể nói chúng ta chưa tránh được “vết xe đổ” của việc trả giá đắt về môi trường cho quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước như Nhật Bản, Hàn Quốc và gần đây là Trung Quốc.

Điều đó thể hiện ở việc, tài nguyên thiên nhiên không chỉ bị khai thác không bền vững, mà sử dụng cũng không hiệu quả. Khoáng sản bị khai thác để xuất khẩu, thiếu kiểm soát, gây suy thoái môi trường ở các khu vực khai thác. Đất đai bị thâm canh tăng năng suất, bạc màu do sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách. Rừng tự nhiên bị khai thác mạnh mẽ, rừng ngập mặn bị phá hủy để nuôi trồng thủy sản do đó đã giảm 67% diện tích so với năm 1943. Việc phát triển thủy điện vừa và nhỏ ồ ạt đã gây nhiều hệ lụy như gây mất rừng, làm suy kiệt dòng chảy, phá vỡ hệ sinh thái, xả lũ gây ngập lụt vùng hạ du. Nguồn lợi thủy sản bị suy giảm do đánh bắt quá mức, với các phương thức khai thác không bền vững…

Môi trường ở nhiều khu vực bị ô nhiễm nặng nề do phải chứa đựng lượng lớn chất thải, vượt quá khả năng tự hồi phục. Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2011-2015 cho thấy, môi trường không khí ở các đô thị lớn bị ô nhiễm bụi do hoạt động xây dựng, số lượng phương tiện tăng nhanh trong khi quy hoạch và cơ sở hạ tầng không đáp ứng nhu cầu. Tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được xử lý mới chỉ đạt khoảng 10%; các hồ, ao, kênh mương trong các đô thị nơi chứa đựng nước thải, bị ô nhiễm nặng nề. Sau hơn 20 năm thực thi Luật Bảo vệ môi trường, chúng ta vẫn còn khoảng 25% trong tổng số 283 khu công nghiệp, 95% trong tổng số gần 900 cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải. Khoảng 60% chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn chưa được thu gom, xử lý. Ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, các khu vực khai thác khoáng sản, xung quanh các nhà máy nhiệt điện, xi-măng, thép… chưa được ngăn chặn.

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn biến phức tạp, khó lường và càng ngày càng gia tăng các tác động. Chúng ta đang chứng kiến sự gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan, đã xuất hiện nhiều cơn bão có cường độ mạnh hơn, khó dự báo hơn. Lũ lụt do mưa lớn ở miền Trung; hạn hán nghiêm trọng ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và đặc biệt là BĐKH ở Đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2016 vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề. Có thể nói, thiên nhiên đang giận dữ và đang có những hành động đáp trả lại những tác động xấu, vô ý thức của con người lên môi trường tự nhiên, đòi hỏi con người phải có những hành động sửa chữa lỗi lầm mình gây ra.

Chọn cách quản trị hiệu quả

Trong bối cảnh phải đối mặt với nhiều thách thức về suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và BĐKH, tháng 9-2015, Liên hiệp quốc đã chính thức thông qua và kêu gọi thực hiện Chương trình nghị sự 2030 với 17 mục tiêu về phát triển bền vững. Các mục tiêu này nhấn mạnh hoạt động bảo vệ, gìn giữ môi trường, theo đó, đến 2030, các nước cần phấn đấu để đạt được sự “tách rời” giữa tăng trưởng kinh tế và suy thoái tài nguyên, môi trường. Bên cạnh đó, năm 2015 cũng chứng kiến việc đạt được thỏa thuận Pa-ri về BĐKH, với cam kết có ý nghĩa lịch sử về cắt giảm phát thải các-bon, hướng tới mục tiêu giữ cho nhiệt độ trái đất không tăng quá 2oC vào cuối thế kỷ 21.

Các chiến lược quốc gia về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh… đã được ban hành, nhấn mạnh phát triển phải hài hòa với thiên nhiên, tôn trọng các quy luật tự nhiên, thân thiện với môi trường, từng bước chuyển dần sang tăng trưởng xanh, phát triển các-bon thấp. Mục tiêu đến năm 2020 là phải kiềm chế được mức độ gia tăng và đến 2030 phải ngăn chặn, đẩy lùi được xu hướng gia tăng ô nhiễm, suy thoái tài nguyên môi trường. Mặt khác Việt Nam cũng cam kết cắt giảm 8% phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường vào năm 2030 để chung tay với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với BĐKH.

Ưu tiên trong bảo vệ môi trường hiện nay là phải đẩy mạnh hơn nữa phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường thông qua việc không để phát sinh cơ sở gây ô nhiễm mới, đồng thời giảm các nguồn thải đang gây ô nhiễm. Thực hiện tổng điều tra các nguồn thải trên toàn quốc; giám sát chặt chẽ đối với các cơ sở sản xuất có nguồn thải lớn, ngăn ngừa xảy ra các sự cố môi trường. Siết chặt các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường để hạn chế dòng công nghệ cũ, lạc hậu và chất thải tràn vào nước ta. Cần phải rà soát, đánh giá để hạn chế phát triển các loại hình sản xuất, công nghệ có tiềm năng gây ô nhiễm lớn, tiêu tốn tài nguyên. Đầu tư, đẩy mạnh việc quản lý, xử lý các loại chất thải; từng bước giải quyết các vấn đề môi trường tại các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, khu vực nông thôn.

Hơn nữa cần phải chú trọng việc quản lý, khai thác bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Cần nhìn nhận tài nguyên là các nguồn “vốn tự nhiên” mà thiên nhiên đã ban tặng, chúng ta có trách nhiệm không được làm thâm hụt, mà phải sử dụng một cách khôn khéo, thông minh, để có thể duy trì, phát triển… Không chỉ vậy, chúng ta cần quản lý sao cho có “lãi”, nghĩa là phải có được tài nguyên môi trường tốt hơn cho các thế hệ con, cháu của chúng ta.

Trong bối cảnh hiện nay, hơn bao giờ hết, cần phải biến tư duy, nhận thức về bảo vệ môi trường thành hành động

, nâng cao ý thức trách nhiệm về môi trường đối với thế hệ mai sau; loại bỏ tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế, bỏ qua các quan tâm về môi trường. Chẳng hạn như, cần hết sức cân nhắc việc thu hẹp diện tích khu bảo tồn biển Hòn Cau, việc nhận chìm 1,5 triệu tấn chất thải xuống biển ở Bình Thuận, hay phát triển dự án thép Cà Ná ở Ninh Thuận, các dự án sản xuất giấy và bột giấy ở Đồng bằng sông Cửu Long…

Đến lúc cần phải thực hiện quản trị môi trường hiệu quả bằng cách hoàn thiện thể chế, tăng trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp vào quản lý tài nguyên và môi trường ở nước ta.

TS. Nguyễn Trung Thắng
Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường

Nhà máy nhiệt điện - Mối hiểm họa khôn lường



Nếu các bạn không thích đọc bài dài, thì hãy chỉ đọc đoạn đầu là đủ.

Phân tích giới hạn phát thải đối với nhà máy nhiệt điên than mới xây dựng ở Việt Nam so với Trung Quốc và Ấn Độ; L.Myllivirta cũng đã chỉ ra, do công nghệ lạc hậu, nên hàm lượng khí thải độc hại của nhiệt điện than Việt Nam có:

1. Khí SO2: Cao gấp 1,75 lần Trung Quốc, 3,5 lần Ấn Độ.

2. Khí NOx: Cao gấp 4,5 lần cả Trung Quốc và Ấn Độ

Đây chính là một hiểm họa lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng dân cư.

- Giáo sư Lauri Myllivirta - (Đại học Harvard)

Trong thành phần khí thải từ nhà máy nhiệt điện than, ngoài khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính, có những loại khí gây mưa axit như SO2 và NO2. Đánh giá hiện trạng này, mưa axit chiếm từ 30% đến 50% số lần mưa. Nơi có tần suất mưa axit cao là Việt Trì; tiếp đó là các khu vực công nghiệp lớn như TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Quảng Ninh...

Mưa axit tác động tiêu cực đến môi trường đất và nước; rửa trôi các chất dinh dưỡng và mang kim loại nặng xuống các nguồn nước mặt: sông, suối, ao, hồ...

- Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường -

Đến đây bạn có thể dừng, nhưng nếu cảm thấy chưa đủ sợ, bạn có thể đọc thêm dưới đây:

- SO2: Lưu huỳnh điôxit (hay còn gọi là anhiđrit sunfurơ) là một hợp chất hóa học. Chất khí này là sản phẩm chính của sự đốt cháy hợp chất lưu huỳnh. SO2 thường được mô tả là "mùi hôi của lưu huỳnh bị đốt cháy". Lưu huỳnh điôxit là một khí vô cơ không màu, nặng hơn không khí.

SO2 là một ôxit axit, tan trong nước tạo thành dung dịch axit yếu H2SO3(nhưng nó vẫn có đầy đủ tính chất hóa học của axit).

Lưu huỳnh điôxit là một trong những chất gây ô nhiễm môi trường. Nó sinh ra như là sản phẩm phụ trong quá trình đốt cháy than đá, dầu, khí đốt.

Nó là một trong những chất gây ra mưa axit (gồm NOx,...) ăn mòn các công trình, phá hoại cây cối, biến đất đai thành vùng hoang mạc:

2SO2 + O2 + 2H2O --> 2H2SO4

Khí SO2 xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hoà tan với nước bọt, từ đó qua đường tiêu hoá để ngấm vào máu. SO2 có thể kết hợp với các hạt nước nhỏ hoặc bụi ẩm để tạo thành các hạt axít H2SO4 nhỏ li ti, xâm nhập qua phổi vào hệ thống bạch huyết. Trong máu, SO2 tham gia nhiều phản ứng hoá học để làm giảm dự trữ kiềm trong máu gây rối loạn chuyển hoá đường và protêin, gây thiếu vitamin B và C, tạo ra methemoglobine để chuyển Fe2+ (hoà tan) thành Fe3+(kết tủa) gây tắc nghẽn mạch máu cũng như làm giảm khả năng vận chuyển ôxy của hồng cầu, gây co hẹp dây thanh quản, khó thở.

- NOx: các oxit nitơ

Oxit nitơ có nhiều dạng, do nitơ có 5 hoá trị từ 1 đến 5. Do ôxy hoá không hoàn toàn nên nhiều dạng oxit nitơ có hoá trị khác nhau hay đi cùng nhau, được gọi chung là NOx. Có độc tính cao nhất là NO2 , khi chỉ tiếp xúc trong vài phút với nồng độ NO2 trong không khí 5 phần triệu đã có thể gây ảnh hưởng xấu đến phổi, tiếp xúc vài giờ với không khí có nồng độ NO2 khoảng 15-20 phần triệu có thể gây nguy hiểm cho phổi, tim, gan; nồng độ NO2 trong không khí 1% có thể gây tử vong trong vài phút.

NOx bị ôxy hoá dưới ánh sáng mặt trời có thể tạo khí Ôzôn gây chảy nước mắt và mẩn ngứa da, NOx cũng góp phần gây bệnh hen, thậm chí ung thư phổi, làm hỏng khí quản.