Hiển thị các bài đăng có nhãn Môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Formosa và Nhiệt điện Vĩnh Tân coi biển Việt Nam là bãi rác thải

Biển có phải bãi rác công cộng không mà Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phép Nhiệt điện Vĩnh Tân đổ 1,5 triệu m3 bùn thải xuống biển Tuy Phong, gần khu bảo tồn sinh vật biển Hòn Cau.

                                                    Nguồn internet mang tính chất minh họa

Biển là một phần không thể tách rời của cuộc sống nhân loại, trên thế giới các tổ chức NGOs đang phải đua nhau đưa ra các giải pháp cố gắng tìm cách làm sạch biển hay duy trì bảo tồn những loài động vật biển quý hiếm. Còn tại Việt Nam, người dân cả nước chưa kịp hoàng hồn với nhát chém mang tên Formosa gây ra cho bốn tỉnh miền Trung thì nay thêm thông tin rằng 1,5 triệu m3 bùn được Bộ Tài Nguyên & Môi Trường ký phép cho đổ thẳng xuống biển Tuy Phong. 

Biển còn là nguồn sống của hàng chục triệu ngư dân, gắn liền đời sống của cả đất nước. Chưa kể đến chiến lược kinh tế biển của Đảng cộng sản Việt Nam cũng xác định tới 2020, kinh tế biển sẽ đóng góp hơn 50% GDP cả nước. Chiều dài bờ biển Việt Nam là 3.260 km, xếp thứ 32 trên tổng số 156 nước có bờ biển. Độ dài bờ biển chỉ dạng trung bình, bù lại Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, thừa sức sánh vai cùng thế giới. Từ khi đổi mới, du lịch Việt Nam phát triển và đi lên từ biển. Cho đến hôm nay, du lịch Việt Nam chủ đạo vẫn là biển.

Vì nhiều lý do, nhất là vì nghèo đói, biển Việt Nam bị bạc đãi. Bao đời nay, biển là bãi chứa rác thải của tàu thuyền và cư dân ven bờ, âm thầm mà nhức nhối, từ năm này qua năm khác. Gần đây, biển đau đớn và có nhiều người đã gọi là “ biển chết” vì chất thải công nghiệp thi nhau đổ xuống biển. Không chỉ rác thải thông thường dễ phân hủy mà toàn hóa chất độc hại, hủy diệt môi trường. Biển chết, các sinh vật biển, nguồn sống của con người bị diệt chủng kéo theo nhiều hệ lụy khôn lường.

Tháng 9/2016, tôi có dịp tới Taiwan du lịch và sự tò mò tiếp cận nhà máy Formosa đã thôi thúc tôi đi tìm hiểu về nó. Oái ăm thay, “Formosa” vốn có nghĩa là “xinh đẹp” lại trở thành biểu tượng của sự chết chóc. Formosa ở Đài Loan gây ô nhiễm tại Đài Trung, trong suốt hơn 20 năm tồn tại nó đã làm biến mất hoàn toàn dòng sông Trạc Thủy vì hút nước làm mát nhà máy. Nơi xưa kia người dân bắt cá và mưu sinh giờ chỉ là cánh đồng cỏ dại mọc chạy dài. Những cái chết vì mắc các căn bệnh ung, nhiều làng tại Đài Trung giờ bị bỏ hoang.

Sau khi chính phủ mới được thành lập tại Taiwan bàn tay thao túng của Formosa đã không thể che hết bầu trời, Formosa buộc phải bồi thường mỗi tháng 650 USD/người cho hàng chục ngàn dân vùng ô nhiễm, vẫn không từ bỏ tham vọng mở rộng đế chế luyện thép vì những món lợi kếch xù. Không thể bành trướng xuống Cao Hùng như dự kiến vì người Đài Loan kịch liệt phản đối, Formosa thò vòi bạch tuộc vào Hà Tĩnh, Việt Nam.

Biển Hà Tĩnh và vùng phụ cận sau hơn một năm, theo nhận định của nhiều chuyên gia, thảm họa môi trường này sẽ khiến toàn bộ hệ sinh thái khu vực biển miền Trung bị hủy hoại nghiêm trọng và mất vài chục cho đến hàng trăm năm mới có thể khôi phục được. Theo một phóng sự ngắn của báo Dân Việt và Sài Gòn Giải Phóng, rặng san hô trên vùng biển của tỉnh Quảng Bình đã bị hủy hoại hoàn toàn. Chưa có một đảm bảo về tính khoa học nào rằng biển đã an toàn trừ những phát ngôn không có cơ sở của một số lãnh đạo như ông Trương Hòa Bình, Mai Tiến Dũng.

Khách tới những địa điểm du lịch đa phần là khách địa phương, khách bình dân; còn khách du lịch đúng nghĩa, khách Tây vẫn biệt tăm. Họ nghi ngờ những người đã cho phép Formosa xả thải vì cho là không độc hại hoặc biết là độc hại nhưng vẫn nhắm mắt đồng ý vì tư lợi. Tại sao không mời cơ quan độc lập về môi trường quốc tế công bố để đảm bảo khách quan và chính xác? Tại sao những tổ chức về môi trường lớn như Green Peace khi muốn hoạt động tại Việt Nam lại không được chào đón hay tạo mọi điều kiện cấp phép hoạt động.

Những người yêu biển chưa nguôi nỗi đau mang tên Formosa nay lại được bồi thêm nhát chém mang tên Vĩnh Tân ở Tuy Phong, Bình Thuận. Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phép đổ 1,5 triệu mét khối bùn thải xuống biển Tuy Phong, gần khu bảo tồn sinh vật biển Hòn Cau. Lại còn chống chế và ngụy biện bằng mỹ từ “vật chất” chứ không phải là bùn thải. Nếu dùng được, không ai ngu gì đổ bỏ. Số bùn thải này, nếu vô hại, có thể làm thêm được mấy đảo nổi ở Trường Sa. Hòn Cau, còn gọi là Cù Lao Câu, cách bờ 10 km, là một trong 16 khu bảo tồn sinh vật biển của Việt Nam. Đây là đảo không có người ở và có thể bắt cá bằng tay với dụng cụ thô sơ, một trong những vùng biển đẹp nhất của Việt Nam.

Nên nhớ, mới Vĩnh Tân 1 và chỉ giai đoạn đầu đã đổ 1,5 triệu mét khối bùn thải xuống biển. Không chỉ hủy diệt môi trường mà còn thay đổi hệ sinh thái và hải lộ vận chuyển xuyên Việt. Vĩnh Tân có 4 nhà máy 1, 2, 3, 4 thì 3/4 nhà máy do Trung Quốc làm tổng thầu và chủ đầu tư 1 nhà máy. Trước đây, dù chưa vận hành, Vĩnh Tân đã bị ngư dân Tuy Phong nhiều lần phản đối vì bụi xỉ làm ô nhiễm môi trường sống. Số bùn thải này đổ lên bờ đã khủng khiếp và không thể xử lý, nỡ nào đổ xuống biển.. Biển đang giãy chết còn lòng dân đang dậy sóng. Thay cho nhiệt điện than, sao không làm điện gió hoặc điện mặt trời vốn là thế mạnh của vùng đất thiếu nước ngọt, thừa nắng và dư gió này?

Có cảm giác Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan gác cửa môi trường sống của Việt Nam đang làm ngược với chức năng của mình. Các mức kỷ luật của Bộ trong vụ Formosa vẫn chưa đủ sức cảnh báo và răn đe những hành vi tương tự. Nếu mọi người dân trên cả nước cùng đồng lòng,cùng lên tiếng đề nghị Thủ tướng cho dừng ngay các dự án nhiệt điện than Vĩnh Tân và hành vi đổ rác thải độc hại ra biển thì chắc chắn chúng ta sẽ cứu biển thành công. Các nhà khoa học chân chính và những ai yêu biển hãy cùng nhau góp tiếng nói để chặn đứng những dự án hủy diệt môi trường. Thiệt hại về tiền bạc còn có thể bù đắp nhưng về môi trường sống thì không thể. Muộn vẫn còn hơn không. Hãy làm hết khả năng của lương tâm con người. 

Green Trees (Sola)

Rác thải hạt nhân có gì nguy hiểm

Chúng ta ai cũng quan ngại về vấn đề lượng rác thải và cách xử lý rác thải hạt nhân khi vận hành nhà máy điện. Nhưng chúng ta dường như mù mịt với những kiến thức về nhà máy điện hạt nhân: chất phóng xạ, tia phóng xạ, nhiễm độc phóng xạ..... huống chi là vấn đề về rác thải hạt nhân và những mối nguy hiểm từ nó.



Sau khi đốt cháy 4-5% đồng vị U-235, một phần nhỏ U-238 bị chuyển hóa, thanh nhiên liệu sau khi sử dụng có hơn 90% U-238, còn lại là các sản phẩm phân hạch.

Tất cả những thứ đó đều vẫn nằm trong thanh nhiên liệu, chúng được đem ra ngoài và cho vào hồ chứa 2-3 năm rồi mới được vận chuyển đến chỗ cất giữ. Sau khi mang ra khỏi lò phản ứng thì đã mất đi 2 lớp chống phóng xạ bao gồm "vòng tuần hoàn 1" và "tòa nhà chứa", vậy viên nhiên liệu có còn được tính là một lớp chống phóng xạ? sản phẩm phân hạch là gì? trong vài nghìn thanh nhiên liệu không có thanh nào rò rỉ?

Câu trả lời của những câu hỏi trên chỉ mang tính xác suất - tương đối. Mức phóng xạ của thanh nhiên liệu đã qua sử dụng cao hơn nhiều lần so với thanh nhiên liệu mới, điều đó chứng tỏ sản phẩm phân hạch là các chất phóng xạ (cũng có một phần là các hạt nhân bền). Đặc biệt sinh ra sản phẩm phân hạch ở thể khí, tích tụ và dồn nén bên trong thanh nhiên liệu kín. Các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng vẫn phát ra một lượng nhiệt "dư" khoảng 5-7% so với lúc ở trong lò phản ứng và giảm dần theo thời gian, cần phải được làm lạnh. Có xác suất một số chất phóng xạ phát ra neutron "mồi" cho phản ứng phân hạch U-238/Pu-239 còn lại trong thanh nhiên liệu thì quả là ác mộng...nghe thấy quá nguy hiểm.

Sau đó nhiên liệu đã qua sử dụng được tách ra khỏi thanh nhiên liệu, được đóng thùng và đưa vào hầm cất giữ sâu trong lòng đất khoảng 50 năm. Từng có ý tưởng ném những thải này vào vũ trụ, hoặc mặt trời ... bản thân mặt trời cũng là nguồn phát tia γ (gamma). Nhưng thật phí phạm vì U-238 vẫn có thể tận dụng trong các thế hệ lò neutron nhanh, và khai thác Uranium không hề dễ dàng.

Quy trình xử lý cũng như tái chế rác thải hạt nhân đòi hỏi trình độ cao, và chi phí nhất định, tùy thuộc vào từng quốc gia và tiêu chuẩn an toàn của họ. Hiện nay trên thế giới chỉ có nước Nga có đầy đủ dây chuyền khép kín từ khai thác nhiên liệu > sản xuất nhiên liệu> sử dụng tạo năng lượng> xử lý > tái chế > tái sử dụng nguyên liệu hạt nhân.

Vậy mỗi năm nhà máy điện hạt nhân thải ra bao nhiêu?


Mỗi tổ máy với lò phản ứng VVER 1000/1200 với công suất 1000MW/1200MWcó 163 bó nhiên liệu, mỗi bó có 312 thanh nhiên liệu (ứng với 505 kg/530 kguranium). Mỗi năm (sau 7000 giờ hoạt động) tổ máy thay mới 1/3 số bó nhiên liệu.

Vậy mỗi năm 1 tổ máy thải ra 54 -55 bó nhiên liệu, ứng với 27,3 - 29,2 tấn chất thải (trong đó có hơn 90% là U-238 có thể tái sử dụng nếu đủ công nghệ). Thể tích chất thải lúc lấy ra khỏi thanh nhiên liệu chỉ khoảng 45-50% so với thể tích này. 

Những yếu tố thiên nhiên tác động và bài học đắt giá từ Fukushima
Cùng nhìn lại thảm họa động đất và sóng thần xảy ra ngày 11/03 ở ven bờ biển Sendai, tỉnh Fukushima, đã tròn 6 năm (03/2011 – 03/2017). Trận động đất mạnh 9 độ Richter dẫn đến thảm họa sóng thần cao 39m vô cùng khủng khiếp xảy ra ngoài khơi Tohoku của Nhật Bản khiến cho 3 tỉnh Iwate, Miyagi và Fukushima hứng chịu thiệt hại nặng nề: Hơn 16.000 người chết, trên 6.000 người bị thương, khoảng 2.600 người mất tích, gần 200.000 người dân không thể trở về nhà. Mặc dù sau thiên tai Nhật Bản đã tái thiết đất nước một cách mạnh mẽ, song tiến độ vẫn chưa nhanh như kế hoạch ban đầu của chính phủ.

Theo con số thống kê mới nhất của Chính phủ Nhật Bản, hơn 3.400 người sống sót sau thảm họa năm 2011 đã qua đời vì sức khỏe liên quan đến thảm họa này. Tỉnh Fukushima chiếm 58%.

Hậu quả của rò rỉ phóng xạ
Trận động đất ngày 11/03 còn gây ra một thảm họa kép khi sóng thần phá hủy 3 trong 6 lò phản ứng nguyên tử của nhà máy Fukushima, khiến phóng xạ phát tán ra ngoài, buộc hơn 160.000 người dân sống trong bán kính 18 dặm quanh nhà máy phải di tản. Gần 250.000 người dân vẫn sống trong những căn nhà tạm, trong khi hàng trăm cây số vuông đất nông nghiệp, lâm nghiệp và làng mạc vẫn bị bỏ hoang do ảnh hưởng của phóng xạ. Các vùng nông thôn xung quanh tràn ngập những túi ni-lông đựng đất bị nhiễm phóng xạ xếp thành hòn núi.

Mức độ phóng xạ xung quanh nhà máy điện hạt nhân Fukushima cao gấp 10 lần mức bình thường. Hàng loạt làng mạc, thị trấn vẫn bị đóng cửa, bất chấp nỗ lực dọn dẹp với quy mô lớn. Các giới chức Nhật Bản cho biết, quá trình hồi phục tại khu vực bị ảnh hưởng của phóng xạ nặng nề nhất vẫn rất chậm chạp. Đặc biệt là ở làng Iitate, tỉnh Fukushima. Ban đầu, trưởng làng nói rằng người dân không phải lo sợ về phóng xạ, vì họ ở cách nhà máy điện nguyên tử Fukushima số 1 tới 19 dặm. Thế nhưng, vài ngày sau, lệnh di tản toàn bộ được ban bố khi các chỉ số phóng xạ tăng lên. Giờ đây, dân làng chỉ được phép về nhà vào ban ngày, nhưng không được ở lại qua đêm hay dọn về hẳn. Trước đây làng có hơn 6.000 người, nhưng đến giờ chỉ còn vài trăm người trở về làng vào ban ngày.

Ông Muneo Kanno, người sở hữu một trang trại trong làng Iitate, giờ đây là trưởng nhóm giám sát phóng xạ tình nguyện ở lại làng cho biết: “Cảnh tượng trong làng giờ thật ảm đạm. Ban đêm, không hề nhìn thấy một ánh đèn, ban ngày, lũ khỉ và lợn rừng lang thang trong làng, không khác gì làng này là vương quốc của chúng”.

Đánh giá mới nhất của Bộ Môi trường Nhật Bản cho hay, công tác xử lý ô nhiễm, trong đó có việc làm sạch chất nhiễm xạ, sau thảm họa hạt nhân ngày 11/03/2011, vẫn đang diễn ra tại nhiều thành phố. Tường trình của hãng truyền hình NHK cho thấy, trong số 43 thành phố tại tỉnh Fukushima, chỉ có 14 thành phố hoàn toàn sạch ô nhiễm.

Hiện tại việc khắc phục hậu quả tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 vẫn chỉ ở những bước đầu. Họ ước tính, phải mất trên ba bốn mươi năm mới có thể hoàn tất khối lượng công việc. Ba cựu giám đốc điều hành của Công ty Điện lực Tokyo (Tokyo Electric Power Company – TEPCO), chủ sở hữu nhà máy, đã bị buộc tội thiếu trách nhiệm trong việc đảm bảo các biện pháp an toàn để ngăn chặn thảm họa hạt nhân năm 2011.

Tràn ngập nước nhiễm độc phóng xạ
Thảm họa động đất và sóng thần xảy ra vào tháng 03/2011 đã làm hỏng hệ thống làm nguội của lò phản ứng ở nhà máy điện nguyên tử Fukushima số 1, Công ty Điện lực Tokyo cho bơm nước biển vào để tiếp tục làm nguội các lò phản ứng, kết quả, một lượng lớn nước nhiễm xạ đang được lưu trữ trong nhà máy. Gần 800.000 tấn nước nhiễm độc được trữ trong hơn 1.000 bồn tại nhà máy Fukushima chưa có kế hoạch xử lý.

Theo hãng thông tấn Kyodo, trong một giờ, một vũng nước có khả năng phóng xạ tới 100 milisieverts. Masayuki Ono, Tổng Giám đốc TEPCO nói với hãng thông tấn Reuters: “100 milisieverts/giờ tương đương với mức phóng xạ các công nhân làm việc trong ngành nguyên tử phải hứng chịu trong 5 năm”.

Hiện đang có một nhóm công nhân vây quanh bồn nước bị rò rỉ tìm cách chặn và hút nước chảy ra bằng bao cát. Ký giả BBC Rupert Wingfield-Hayes làm việc tại Tokyo nhận định: “Đó là công việc khó khăn và nguy hiểm”.

Ảnh hưởng của phóng xạ đối với động, thực vật
Ảnh hưởng của phóng xạ nguyên tử không những gây tác hại cho con người, còn ảnh hưởng đến các loài động, thực vật. Trong một nghiên cứu, các nhà động vật học kiểm tra 61 con khỉ sống cách khu vực xảy ra thảm họa rò rỉ phóng xạ khoảng 70 km, và 31 con khỉ sống trên bán đảo Shimokita cách đó khoảng 400 km. Kết quả phân tích cho thấy, những con khỉ ở địa điểm đầu tiên có kết quả dương tính với phóng xạ Caesium (nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Cs), liên quan đến nồng độ Caesium có trong đất ở môi trường sống của chúng.

Loài khỉ Nhật Bản có thói quen tắm ở những dòng suối nước nóng, ăn ngọn cây và vỏ cây ở nơi mà Caesium có thể tích tụ với nồng độ cao vào mùa đông. Sự bất thường trong máu có thể khiến chúng dễ bị mắc bệnh truyền nhiễm. Những con khỉ sống ở khu vực ảnh hưởng bởi phóng xạ từ nhà máy điện nguyên tử Fukushima có số lượng tế bào hồng cầu và bạch cầu trong máu với nồng độ hemoglobin (huyết sắc tố) đáng kể. Nghiên cứu này được thực hiện đối với khỉ. Tuy nhiên, kết quả của nó sẽ gây áp lực mạnh mẽ đối với Công ty Điện lực Tokyo.

Đầu năm nay, người ta cũng đã bắt được một con cá mang trong mình lượng Caesium phóng xạ cao gấp 2.540 lần mức cho phép đối với hải sản ở vịnh gần nơi đặt lò phản ứng chính của nhà máy Fukukshima. Một báo cáo khác cũng phát hiện, tính đến nay, lượng phóng xạ nhiễm vào những con cá đánh bắt được ngoài khơi bờ biển Fukushima vẫn chưa giảm xuống.

Trên một trang mạng của Đại Hàn cũng từng cho đăng tải hàng loạt bức hình về hoa quả và rau củ dị dạng với lời chú thích chúng là sản phẩm của thảm họa Fukushima.

Có thể nói, thảm họa rò rỉ phóng xạ tại nhà máy điện nguyên tử Fukushima năm 2011 đã gây ra những hậu quả lâu dài, ngoài con người, động thực vật trong vùng chịu ảnh hưởng của phóng xạ cũng biến đổi khác thường.


Green Trees ( Sola)

Talk show: " Những câu hỏi lớn về thảm họa biển miền Trung " 3




Trong hai số trước, chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về Formosa và những hoạt động xung quanh việc khắc phục thảm họa từ phía chính quyền. Tai số này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu kỹ hơn về việc chính quyền Việt Nam đã cam kết những gì và giải quyết được bao nhiêu phần?

Đồng thời, chúng ta hãy cùng xem Đài Loan, là nơi đặt trụ sở chính của Formosa với KCN hóa chất lớn nhất thế giới, đã phản ứng ra sao khi các tác hại tương tự xảy ra với người dân. Anh Nguyễn Anh Tuấn, một nhà hoạt động xã hội đã nỗ lực tiến hành các hoạt động hỗ trợ người dân ở Hà Tĩnh trong thời gian khó khăn, cũng là người có dịp gặp và trao đổi với các tổ chức xã hội dân sự tại Đài Loan sẽ giúp chúng ta có thêm thông tin về thực trạng của tại miền Trung, đồng thời so sánh giữa hai chính phủ về các hoạt động khắc phục thảm họa thông qua cuộc trao đổi với nhà báo Nguyễn Đình Hà.


3/4 Dân số thế giới có thể hứng chịu cái nắng tử thần vào năm 2100


Hàng tỷ người trên thế giới sẽ phải đối mặt với các đợt nắng nóng chết người vào cuối thế kỷ 21 nếu khí nhà kính tiếp tục tăng.

Hơn 1.900 địa điểm trên khắp thế giới có người chết vì thời tiết nắng nóng kể từ năm 1980, theo kết quả nghiên cứu của Camilo Mora, giáo sư tại Đại học Hawaii, Manoa, Mỹ, đăng trên tạp chí Nature Climate Change hôm 19/6.

Đợt nắng nóng năm 2010 cướp đi sinh mạng của 10.800 người ở Moscow, Nga, năm 2003 cũng có khoảng 4.900 người chết ở Paris, Pháp cũng do thời tiết quá nóng, theo Independent.

Nhóm nghiên cứu ước tính 1/3 dân số thế giới hứng chịu từ 20 ngày nắng nóng chết người trở lên vào năm 2000. Đến cuối thế kỷ 21, con số này sẽ tăng lên đến 74% nếu lượng khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính tiếp tục duy trì ở mức cao. Ngay cả khi mục tiêu giảm khí thải nhà kính được thực hiện tốt, chúng ta vẫn phải chứng kiến hơn 47% dân số bị ảnh hưởng bởi các đợt nắng nóng chết người năm 2100.

Khí hậu trên Trái Đất thay đổi nhanh đến nỗi con người không thể tiến hóa kịp để chịu đựng nhiệt độ cao. Hiện tượng nóng lên toàn cầu đang không ngừng tăng lên, hoạt động của con người làm biến đổi khí hậu nhiều gấp 170 lần so với các nguyên nhân tự nhiên khác.

"Chúng ta đang thiếu lựa chọn cho tương lai. Đối với những đợt nắng nóng, lựa chọn của chúng ta hiện nay đang nằm giữa mức xấu và tồi tệ. Các mô hình cho thấy điều này sẽ tiếp tục diễn ra và ngày càng tồi tệ hơn nếu lượng khí thải không giảm mạnh", giáo sư Mora nói.

Nhiệt độ trung bình của cơ thể người khoảng 37 độ C. Khi nắng nóng, cơ thể tự làm mát bằng cách đổ mồ hôi. Tuy nhiên, nếu nắng nóng kết hợp với độ ẩm cao, mồ hôi không thể bay hơi vì không khí bão hòa hơi nước, khiến nhiệt độ cơ thể tăng lên đến mức đe dọa tính mạng.

"Hậu quả của việc tiếp xúc với các điều kiện khí hậu gây chết người sẽ ngày càng trầm trọng hơn do dân số già đi. Người già là đối tượng rất dễ bị tổn thương do nắng nóng", Mora viết.

“We will become prisoners in our homes,” Mora viết. ( "Chúng tôi sẽ trở thành tù nhân trong nhà của chúng tôi")


- Green Trees dịch từ The Washington Post -

Côn trùng và sự phát triển của rêu đe dọa Nam Cực



Sự ấm lên của lục địa này khiến cho châu lục lạnh giá đang bị đe dọa. Các khối băng tuyết tại Nam Cực đang dần chuyển thành màu xanh lá cây do sự phát triển của rêu và tảo. Nhưng một mối nguy hại mới với Nam Cực đã được các nhà khoa học cảnh báo đó chính là ruồi và những loại côn trùng khác.

Những loại sinh vật xâm thực như côn trùng và thực vật lại càng được phát tán mạnh hơn. Côn trùng và thực vật đến với Nam Cực ở dạng ấu trùng dần thích nghi và phát triển hơn khi nhiệt độ tại châu lục này đã tăng hơn 3 độ C trong một thập kỷ qua.

Các sông băng ngày càng thu hẹp diện tích để lộ nhiều vùng đất trống, nhanh chóng bị rêu phát triển lấp chỗ. Theo các nhà khoa học, những "cánh đồng rêu" này là môi trường thích hợp cho những kẻ xâm thực như ruồi trú ẩn và phát triển.

Quá trình xâm thực của các loài côn trùng và thực vật mới tại Nam Cực đang được các nhà khoa học theo dõi sát do vùng đất này được xem là châu lục dễ tổn thương nhất từ tình trạng nóng lêncủa toàn cầu.

"Ruồi là một ví dụ sinh động về những vấn đề mà Nam Cực phải đối phó với những sinh vật xâm thực. Chúng xuất phát từ các con tàu du lịch, phát triển mạnh trong khoang bếp của tàu và sau đó trú ẩn trong các trại thám hiểm Nam Cực. Bây giờ chúng sẽ thoát ra ngoài môi trường do nhiệt độ tại Nam Cực đang nóng lên, điều này làm chúng tôi lo lắng. Những loại côn trùng như ruồi mang theo các loại mầm bệnh có sức tàn phá đối với các loài sinh vật bản địa", ông Dominic Hodgson nhà khoa học thuộc đội Khảo sát Nam Cực Anh cho biết.

Tại Nam Cực có một số loài côn trùng bản địa. Cùng với rêu bản địa những loài côn trùng này đang có nguy cơ biến mất vì 3 nguồn đe dọa chính: các chuyến công tác của các nhà khoa học, sự gia tăng của các đoàn khách du lịch và cuối cùng là sự nóng lên toàn cầu.

Trong năm 2016 có khoảng 38.000 khách du lịch đến Nam Cực. Năm nay số lượng khách sẽ tăng lên thành 43.000 người. Dù ông Hodgson cho biết là những khách du lịch đến Nam Cực đều có ý thức giữ gìn thiên nhiên rất tốt. Nhưng với số lượng khách tăng chóng mặt như hiện nay thì nguy cơ phát tán các loài xâm thực là có thật.

Theo nhà nghiên cứu Anh Current Biology các loài thực vật tại Nam Cực sẽ phát triển bùng nổ trong những năm tới khi nhiệt độ của lục địa này không ngừng gia tăng. Một nhóm nghiên cứu của trường Đại học Exeter gần đây đã công bố kết luận rằng số lượng rêu phủ trên bề mặt Nam Cực hiện nay đã tăng 4 - 5 lần so với thời 1950.

"Sự nhạy cảm của việc phát triển các hòn đảo rêu trong quá khứ gia tăng nhiệt độ cho thấy hệ sinh thái sẽ thay đổi nhanh chóng khi nhiệt độ tiếp tục tăng trong tương lai, dẫn đến những sự thay đổi lớn trong sinh học và cảnh quan của Nam Cực. Nói tóm lại, chúng ta có thể sẽ thấy cây xanh tại Nam Cực, điều đã xảy ra tại Bắc Cực trong thời gian qua", Dan Charman người đứng đầu nhóm nghiên cứu của Đại học Exeter nói.

"Côn trùng và các thực vật Nam Cực đã tồn tại ở đó hàng ngàn năm trước. Chúng ta phải hành động ngay từ bây giờ nếu chúng ta muốn cứu vãn khu vực môi trường nguyên sơ cuối cùng này", ông Hodgson nói. 

- Green Trees dịch từ Science World Report -

Bình Định: Nguời dân cương quyết ngăn khai thác titan vì lo ô nhiễm nguồn nước.

Những ngày qua, nhiều người dân ở hai xã Mỹ An, Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) liên tục phản ứng, không cho Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt khai thác titan trên địa bàn vì lo ngại ô nhiễm nguồn nước.


    Khu vực Công ty CP khoáng sản Biotan khai thác titan tại xã Mỹ An (huyện Phù Mỹ) trước đây -  Ảnh: THÁI THỊNH

Ông Đặng Ngọc Thái, trưởng thôn Xuân Phương (xã Mỹ An), cho biết trước đây thôn này có rừng dương (phi lao) bạt ngàn. “Từ năm 2006, khi có công ty được cho đến đây khai thác titan, họ đốn hạ nhiều hecta cây dương, xe chở titan làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tiếp đó, mạch nước ngầm trong thôn bị cạn dần. Để có nước sinh hoạt và tưới tiêu, nhiều người dân phải bỏ tiền khoan giếng mới” - ông Thái cho hay.

Một số người dân ở thôn Xuân Bình (xã Mỹ An) cũng nghi ngờ giếng nước gia đình họ đục, có mùi hôi là do việc khai thác titan trước đây gây nên.

“Giờ mà tỉnh, huyện cho khai thác titan lại thì dân khổ sở hơn nhiều, đặc biệt là lo lắng các thế hệ tương lai ở đây không còn nước sạch mà sinh hoạt, môi trường bị ô nhiễm nặng. Chúng tôi yêu cầu không được khai thác titan ở đây nữa” - một người dân bức xúc.

Còn ông Nguyễn Văn Giáo ở xã Mỹ Thọ lo lắng: “Khi nước ngầm mất đi thì rừng phòng hộ che chắn sẽ không sống được”.

Theo tìm hiểu, từ tháng 6-2006 đến tháng 4-2013, UBND tỉnh Bình Định cấp phép cho Công ty CP khoáng sản Biotan khai thác titan trên diện tích gần 18ha tại xã Mỹ An và nhiều lần bị người dân phản ứng quyết liệt.

Tháng 4-2011, Bộ Tài nguyên và môi trường cấp phép cho Công ty khoáng sản và thương mại Bình Định (nay đổi tên thành Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt) khai thác titan tại xã Mỹ An với diện tích hơn 180ha trong thời gian 14 năm.

“Tuy nhiên, suốt sáu năm qua, công ty này chưa khai thác được vì vấp phải phản ứng gay gắt của nhân dân” - ông Hồ Mạnh Cường, phó trưởng Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Phù Mỹ, cho biết.

Ông Hồ Ngọc Chánh, chánh văn phòng, đồng thời là người phát ngôn của UBND huyện Phù Mỹ, cho biết huyện đã có báo cáo UBND tỉnh về việc người dân liên tục ngăn cản không cho khai thác titan.

Ông Chánh cung cấp cho chúng tôi bản sao văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Bình Định mới đây, trong đó có nội dung yêu cầu Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt tạm dừng khai thác titan, phối hợp với chính quyền tổ chức họp dân, thông báo cụ thể đến cho người dân biết một số nội dung liên quan đến hoạt động khai thác, cam kết các quy định về bảo vệ môi trường.

Trong khi đó, ông Đỗ Ngọc Dũng, đại diện Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt, cho biết công ty đã hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý cho việc khai thác titan ở xã Mỹ An, kể cả nộp tiền quỹ, tiền thuê đất... tuy nhiên vẫn bị dân ngăn cản khai thác.

“Việc UBND tỉnh tạm dừng khai thác không phải lỗi do doanh nghiệp mà do người dân ngăn cản. Việc dự án kéo dài nhiều năm, nay tiếp tục dừng gây thiệt hại không nhỏ nên doanh nghiệp rất mong chính quyền địa phương sớm có giải pháp giải quyết dứt điểm vụ việc” - ông Dũng nói.

Một số hình ảnh người dân tại hai xã Mỹ An, Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ) tràn ra đường phản ứng với chính quyền về việc cho Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt khai thác titan :





- Ảnh: Thái Thịnh
- Nguồn: Tuổi Trẻ

Nhà máy Shafdan biến nước thải thành nguồn nước phục vụ nông nghiệp tại Israel.



Nhà máy Shafdan xử lý nước thải từ Tel Aviv để biến thành nước phục vụ nông nghiệp ở miền nam Israel. Nhà máy xử lý nước thải khu vực Dan (Shafdan) nằm ở thành phố Rishon Letsion, cách Tel Aviv khoảng 10 km về phía nam, có thể xử lý khoảng 370.000 m3 nước thải mỗi ngày. Nước thải dẫn về nhà máy từ khu dân cư khoảng 2,5 triệu người ở Tel Aviv và vùng lân cận, qua hệ thống đường ống dài 110 km. 

     Là trung tâm xử lý nước thải lớn nhất Israel và hiện đại nhất Trung Đông, Shafdan sử dụng công nghệ loại bỏ nitơ và  phốt pho sinh học.

Mỗi năm nhà máy xử lý hơn 130 triệu m3 nước để cung cấp đến 75% nước dành cho nông nghiệp ở sa mạc Negev, phía nam Israel, cách nhà máy khoảng 10 km.

 Nước sau quá trình xử lý dù đạt tiêu chuẩn sạch nhưng không dùng để uống, chủ yếu dùng cho tưới tiêu.


Nhờ hệ thống này, phần lớn nước thải ở khu vực Dan không bị đổ ra biển Địa Trung Hải.

                   Ông Gal Shoham, kỹ sư của công ty Mekorot, giới thiệu hệ thống bể gạn (clarifier).

Israel hiện đứng đầu thế giới về xử lý nước thải, với tỷ lệ xử lý khoảng 80%. Nước đứng thứ hai là Tây Ban Nha với tỷ lệ 23%.

                                                       Mô hình tổng thể của nhà máy Shafdan.

Trong quá trình xử lý nước thải, hệ thống còn tạo ra khí metan, đáp ứng từ 50 đến 80% nhu cầu năng lượng cho chính nhà máy. Chất cặn sau xử lý được chuyển thành phân bón loại A.

Chi phí đầu tư xây dựng nhà máy khoảng một tỷ USD.

                                               Khách tham quan tìm hiểu thông tin ở khu giới thiệu dưới lòng đất.

Mekorot là công ty thuộc quản lý của Bộ Năng lượng và Nước, Bộ Tài chính Israel. Mekorot được xác định là công ty nước quốc gia trong Luật về nước, được đặt dưới sự giám sát của Cơ quan quản lý nước Israel.


- Green Trees dịch nguồn Reuters -

Hà Nội: Tới năm 2020 - 100% người dân được uống nước sạch tại vòi



Sáng 13/6, đồng chí Nguyễn Đức Chung, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP đã chủ trì buổi làm việc với các sở ngành, doanh nghiệp và nhà đầu tư bàn về thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống nước sạch đến năm 2020 trên địa bàn thành phố.

Tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung nhấn mạnh: mục tiêu của thành phố đến năm 2020 là 100% người dân Hà Nội phải được cấp nước sạch và tiêu chuẩn nước sạch được đặt ra là phải “uống được tại vòi”. Bên cạnh đó, để giữ gìn tài nguyên, các nhà máy nước phải chuyển hoàn toàn sang sử dụng nước mặt. Chủ tịch cho biết, TP coi việc đẩy nhanh cung cấp nước sạch là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Với mục tiêu này, các nhà máy nước cung cấp nước sạch khu vực nội đô phải khẩn trương nghiên cứu, bổ sung công nghệ lọc, trình phương án trong tháng 8/2017 để triển khai vào năm 2018. Các doanh nghiệp cấp nước cần rà soát hệ thống mạng cấp nước, không để thất thoát; thay đổi, điều chỉnh công nghệ để có thể sục rửa mạng cấp nước định kỳ; xây dựng đề án củng cố bộ máy, phương thức quản lý, không để thất thoát, tham nhũng…

Về nước sạch tại khu vực nông thôn, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung yêu cầu tiếp tục phát triển mạng lưới cấp nước để lấy nguồn nước sạch của các nhà máy hiện có, đi đôi với khuyến khích nhà đầu tư xây dựng nhà máy mới. Để khuyến khích các doanh nghiệp, nhà đầu tư cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, Chủ tịch cho biết, TP sẽ giúp các doanh nghiệp kết nối với các ngân hàng; dành 800 đến 1.000 tỷ đồng cho vay lãi suất thấp hoặc không lãi suất để hỗ trợ về nguồn vốn, ưu tiên các doanh nghiệp phát triển những dự án ở các huyện xa như Mỹ Đức, Mê Linh, Chương Mỹ, Thường Tín, Phú Xuyên… Ngoài ra, TP cũng sẽ tổ chức kết nối các nhà đầu tư với các doanh nghiệp cung cấp vật tư để bảo đảm đồng bộ và chất lượng. TP cam kết đẩy mạnh cải cách hành chính để hỗ trợ đầu tư trên lĩnh vực này theo hướng là giao Sở Xây dựng là đầu mối duy nhất tiếp nhận và giải quyết các hồ sơ dự án đầu tư, đồng thời, cho phép cơ chế vừa thiết kế, vừa thi công.

Cũng tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung đã trao đổi trực tiếp với các doanh nghiệp và nhà đầu tư nhằm tháo gỡ những khó khăn, chủ động thúc đẩy và khuyến khích đầu tư vào một số vùng, dự án trọng điểm. Chủ tịch giao Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ dự án của Công ty Nước sạch Hà Nam, phối hợp với huyện Phú Xuyên, Sở Tài Chính để giúp Công ty này cấp nước sạch cho nhân dân trên địa bàn huyện trong thời gian sớm nhất. Công ty Nước sạch số 2 cần kiểm điểm trách nhiệm trong việc sử dụng vật liệu không đúng tiêu chuẩn; khẩn trương phối hợp với huyện Sóc Sơn để cung cấp nước sạch cho nhân dân khu vực xã Nam Sơn. Bên cạnh việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy nước sạch mới, các nhà máy nước đã đi vào hoạt động cần nghiên cứu nâng công suất, mở rộng mạng cấp nước, phối hợp để phủ kín địa bàn. Các Công ty cấp nước cần nghiên cứu, tiến tới sớm đưa vào sử dụng đồng hồ nước thông minh để nâng cao năng lực quản lý…

Theo báo cáo của Sở Xây dựng, thời gian qua, để giải quyết nước sạch khu vực nông thôn, UBND TP Hà Nội đã kêu gọi xã hội hóa lĩnh vực đầu tư cấp nước sạch khu vực nông thôn, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoàn thiện đề án giao công trình cấp nước nông thôn cho doanh nghiệp hoặc hợp tác xã tiếp nhận quản lý. Thành phố đã chấp thuận chủ trương cho 10 nhà đầu tư thực hiện 20 dự án cấp nước cho khu vực nông thôn với phạm vi cấp nước cho 75 xã, hơn 180 nghìn hộ với gần 730 nghìn người dân. Các dự án hoàn thành sẽ nâng tỷ lệ người dân khu vực nông thôn được cấp nước sạch lên khoảng 54%. Từ tháng 6/2016 đến nay, một số dự án cấp nước nông thôn đã được các nhà đầu tư triển khai thực hiện việc cấp nước cho khoảng gần 15 nghìn hộ với khoảng 60 nghìn người dân được cấp nước sạch.


- Theo nguồn HNP-

TP. Đà Nẵng: Cử tri bức xúc vì vấn đề ô nhiễm môi trường tại Hội đồng nhân dân

TP. Đà Nẵng được biết đến là thành phố phát triển nhanh về kinh tế và du lịch của Việt Nam. Tuy nhiên, trong kỳ họp gần đây giữa Hội đồng nhân dân thành phố với các cử tri qua chương trình “Giám sát việc kiến nghị của cử tri”, đã có nhiều ý kiến bức xúc từ phía cử tri phản ánh về những “điểm đen” môi trường đang từng ngày “bức tử” người dân.
Người dân bức xúc chỉ chỗ nước thải ra từ Nhà máy thép Dana -Úc

Ô nhiễm tiếng ồn, khói bụi, chất thải độc hại từ các Nhà máy: Là phản ánh của những cử tri sống ở thôn Vân Dương 2, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng. Từ nhiều năm nay, người dân sống ở thôn Vân Dương 2 rất bức xúc về việc nhà máy thép Dana – Úc và nhà máy thép Dana – Ý xả chất độc, bụi khói và cả tiếng ồn làm ảnh hưởng đến không gian sống của họ. Trước thực trạng đó, mới đây, lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đã có quyết định di dời các hộ dân đang sinh sống gần khu vực các nhà máy trên đến nơi ở khác để đảm bảo sức khỏe và ổn đinh cuộc sống. Theo đó, tiền hỗ trợ cho việc di dời chỗ ở của người dân do hai nhà máy này chi trả ( mỗi doanh nghiệp là 50%). Đồng thời, các doanh nghiệp phải cam kết cùng chính quyền thành phố xây dựng một môi trường sống xanh, sạch, đẹp, không ô nhiễm bằng các cách như trồng nhiều cây xanh, thay đổi công nghệ để tránh sự ô nhiễm từ chất thải, khói bụi từ nhà máy ra môi trường không khí.

Một trong những “họng cống” bốc mùi hôi thối trên con đường ven biển thuộc phường Thọ Quang, Đà Nẵng

Những “họng cống” bốc mùi hôi thối: Là bức xúc của những cử tri sinh sống ven biển Đà Nẵng. Đi dọc theo con đường ven biển Đà Nẵng, kể từ khu vực trung tâm thành phố về phía đỉnh núi Sơn Trà và phố cổ Hội An, có thể bắt gặp nhiều “họng cống” xả thải đen ngòm ra biển Đà Nẵng. Hơn nữa, những “họng cống” này còn bốc mùi hôi thối khó chịu. Mà một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng này là do sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà hàng, khách sạn ở ven bãi biển. Bên cạnh đó là sự tăng nhanh về dân số cơ học, người lao động từ các tỉnh thành tập trung về Đà Nẵng để làm việc, khách du lịch đến với Đà Nẵng tăng lên… Trước những thông tin phản ánh của cử tri, ông Nguyễn Xuân Anh, Bí thư thành ủy thành phố Đà Nẵng đã chỉ đạo cho lãnh đạo quận Sơn Trà và các cơ quan chức năng xuống kiểm tra từng nhà hàng, quán ăn,… trên tuyến đường ven biển thuộc địa phương; Nhà hàng nào không đảm bảo hợp vệ sinh, không có ống hút khói, lọc không khí đảm bảo thì tạm cho dừng hoạt động.
Dòng nước xả thải ra từ côn kênh Phú Lộc có lúc đục ngầu, đen đúa và bốc mùi hôi hám khó chịu

Con kênh “đen” đang ngày ngày “bức tử” thành phố: Cử tri của thành phố Đà Nẵng có phản ánh tình trạng con kênh Phú Lộc nằm trên địa bàn quận Thanh Khê nhưng nhánh chảy của nó dài hàng km chảy qua quận Liên Chiểu. Mà đoạn kênh này là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp ở Hòa Khánh, khu dân cư lao động… Vì vậy, con kênh chính là nơi hứng các nguồn nước xả thải từ khu công nghiệp, khu dân cư trước khi đổ ra biển Đà Nẵng. Điều đó cũng lý giải vì sao nước con kênh luôn có màu xanh đen, đục ngầu và thi thoảng lại thấy cá chết nổi trắng mặt kênh. Chính tình trạng ô nhiễm của con kênh Phú Lộc đã gây nên sự bức xúc kéo dài nhiều năm nay của người dân sống trong khu vực gần con kênh. Mặc dù, thành phố đã tìm nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm của con kênh nhưng kết quả vẫn chưa triệt để và chưa thỏa ý nguyện của người dân. Vậy nên, con kênh Phú Lộc vẫn đang là “điểm đen” môi trường của thành phố Đà Nẵng cần được ưu tiên giải quyết.
                            Những bãi rác tự phát trên vỉa hè Đà Nẵng gây mất mỹ quan đô thị và có mùi hôi thối

Đường phố nhếch nhác, người dân lấn chiếm vỉa hè: Đây là những hình ảnh xuất hiện ngày càng nhiều ở thành phố Đà Nẵng, nơi từng được tự hào là “thành phố đáng sống”, đô thị “Xanh – Sạch – Đẹp”. Nhưng hiện nay thương hiệu này đang mất dần đi bởi lối sống luộm thuộm, cẩu thả của người dân thành phố. Trên các tuyến đường, vỉa hè, ở đâu cũng có rác thải do người dân xả thải bừa bãi. Những khu đất trống trở thành bãi rác tự phát từ lúc nào không hay. Thêm vào đó là đường phố đi lại trở nên chật hẹp, vỉa hè bị lấn chiếm bởi người kinh doanh từ lúc nào. Căn cứ vào những thông tin phản ánh của cử tri, cùng với kết quả kiểm tra thực tế của các cơ quan chức năng, Bí thư Nguyễn Xuân Anh đã chỉ đạo công ty Môi trường đô thị và các xí nghiệp vệ sinh ra quân dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ các tuyến đường quanh thành phố Đà Nẵng.
Lá phổi xanh Sơn Trà bị “đâm nát” bởi sắt thép các dự án du lịch

Lá phổi xanh Sơn Trà bị “đâm nát” bởi sắt thép dự án du lịch: Dãy núi Sơn Trà của TP. Đà Nẵng vốn là điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế bởi cảnh quan thiên nhiên đa dạng, với nhiều loài động thực vật quý hiếm sinh trưởng và phát triển. Vậy mà, thời gian gần đây, những dự án du lịch đang được xây dựnng ngổn ngang giữa rừng cây xanh bạt ngàn trên đỉnh núi Sơn Trà. Thực trạng này đã khiến nhiều cử tri phải bất thốt lên rằng: Lá phổi xanh Sơn Trà đang bị “đâm nát” bởi sắt thép dự án du lịch. Trước những bức xúc của dư luận, những dự án xây dựng du lịch trên dãy núi Sơn Trà đang được Thủ tướng xem xét. Tuy nhiên, theo nguyện vọng của đông đảo cử tri Đà Nẵng thì nên giữ nguyên rừng cây trên dãy núi Sơn Trà. Và không nên “bê tông” hóa quang cảnh tự nhiên đẹp đẽ của dãy rừng nguyên sinh trên dãy núi Sơn Trà bằng những dự án du lịch.

- Hồng Sơn-

Từ góc độ phát triển ngành điện than Ấn Độ, Việt Nam cần cân nhắc.



     Công nhân tại một nhà máy điện chạy bằng than đang được xây dựng tại Kudgi, Ấn Độ vào năm        2015


Cách đây vài năm, thế giới quan sát một cách thận trọng khi Ấn Độ lao vào việc xây dựng các nhà máy điện đốt than, tăng gấp đôi công suất và tuyên bố rằng cần nhiều hơn nữa. Sản lượng than, sẽ tăng gấp ba lần lên 1,5 tỷ tấn vào năm 2020.

Các kế hoạch của Ấn Độ đã bị các nhà phê bình Mỹ đề cập đến Hiệp định khí hậu ở Paris là bằng chứng cho thấy sự vô vọng của các nước tiên tiến đang cố gắng hạn chế sản lượng các-bon. Nhưng bây giờ, ngay cả khi Tổng thống Trump rút quân khỏi Hiệp ước, Ấn Độ đã trải qua một sự thay đổi đáng kinh ngạc, phần lớn là do sự tăng trưởng mạnh mẽ chi phí năng lượng mặt trời.

Các chuyên gia nói rằng Ấn Độ không chỉ cần ít nhất là một thập kỷ mới có các nhà máy đốt than mới vì các nhà máy hiện tại đang hoạt động dưới 60% công suất nhưng sau đó nó có thể dựa vào các nguồn năng lượng tái tạo cho tất cả các nguồn năng lượng bổ sung nhu cầu.

Thay vì xây dựng các nhà máy đốt than, hiện nay nó đang bị hủy bỏ rất nhiều trong giai đoạn lập kế hoạch ban đầu. Và tháng trước, chính phủ đã hạ thấp mục tiêu sản xuất hàng năm của than từ 660 triệu tấn xuống mức 600 triệu tấn

Sự đảo ngược mạnh mẽ, chào mừng các nhà lãnh đạo thế giới đang cố tránh những ảnh hưởng tiềm ẩn của sự nóng lên toàn cầu là phản ánh của cả hai nền kinh tế đang thay đổi của năng lượng tái tạo và ý thức môi trường ngày càng tăng ở một quốc gia có ô nhiễm không khí tồi tệ nhất trên thế giới.

Điều Ấn Độ có vấn đề, bởi vì nó là nước phát thải khí nhà kính lớn thứ ba thế giới, sau Trung Quốc và Hoa Kỳ. Và nhu cầu về năng lượng của nó thật đáng kinh ngạc - gần một phần tư dân số của họ không có điện và nhiều người khác chỉ nhận nó một cách gián đoạn.


                   Smog enveloping buildings on the outskirts of New Delhi in November 2014.

Với nhu cầu về năng lượng của Ấn Độ dự kiến ​​sẽ phát triển mạnh mẽ khi nền kinh tế tiếp tục phát triển, việc sử dụng năng lượng sẽ ảnh hưởng lớn đến cơ hội của thế giới trong việc chứa các khí nhà kính mà các nhà khoa học tin rằng đang thúc đẩy sự nóng lên toàn cầu.

Sự chú ý nhiều vào thời điểm ký kết Hiệp định Paris đã tập trung vào vai trò Tổng thống Barack Obama đã thúc đẩy Thủ tướng Ấn Độ, Narendra Modi, ký kết. Làm như vậy, ông Modi cam kết Ấn Độ đạt được 40% công suất điện từ các nguồn nhiên liệu phi hoá thạch vào năm 2030.

Ít hiểu hơn là ông Modi đã cam kết lâu dài với Ấn Độ theo hướng kinh tế xanh. Theo Harsh Pant, một thành viên của Tổ chức nghiên cứu Observer, một tổ chức nghiên cứu ở New Delhi, điều đó đã được củng cố trong những năm gần đây bằng cách phát triển bằng chứng cho thấy một con đường xanh hơn mang ý nghĩa chính trị và kinh tế.

"Khu vực bầu cử của Modi là tầng lớp trung lưu, và tầng lớp trung lưu ở các thành phố Ấn Độ đang làm nghẹt thở ô nhiễm", ông Pant nói. "Modi biết biến đổi khí hậu là chính trị tốt. Thay đổi khí hậu có ý nghĩa đối với Modi bởi vì ông tin rằng đó là một nền kinh tế và chính trị tốt ".

Hai yếu tố kinh tế chính nằm ở trung tâm của việc Ấn Độ di chuyển khỏi than đá. Thứ nhất là tốc độ tăng trưởng của nước này, trong khi tốc độ tăng trưởng của hầu hết các nền kinh tế lớn, đã giảm xuống mức 6,1% trong quý gần đây nhất, giảm từ 7% trong quý trước. Và phần lớn sự tăng trưởng đó đã xuất hiện trong các ngành công nghiệp dịch vụ hơn là trong sản xuất khát năng lượng.

Quan trọng không kém là sự sụt giảm đáng kể giá các nguồn năng lượng tái tạo. Nhiều chuyên gia năng lượng cho biết các nguồn năng lượng tái tạo đang sẵn sàng để trở thành một loại than thay thế than rẻ hơn trong thập kỷ tới.

"Xe lửa đã rời ga. Theo ông Ajay Mathur, Tổng giám đốc của Viện Năng lượng Năng lượng, một trung tâm chính sách ở New Delhi, liên quan chặt chẽ với chính phủ, ông Trump đã quá muộn "để làm chậm quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. "Đến thời điểm các nhà máy đốt than chạy hết công suất vì nhu cầu ngày càng tăng, giá năng lượng tái tạo sẽ thấp hơn giá than."

Theo Viện Năng lượng Kinh tế và Phân tích Tài chính, Ấn Độ đã huỷ bỏ 13,7 gigawatts của các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Chính phủ Ấn Độ thừa nhận rằng thêm 8,6 gigawatts công suất phát điện bằng than được xây dựng với chi phí 9 tỷ đô la sẽ không còn khả thi về mặt tài chính vì sự cạnh tranh từ các nguồn tái tạo.

Đây là hy vọng cho thế giới, ông Tongia nói, bởi vì cách duy nhất để thế giới không phát triển quá nóng là đối với "các nước đang phát triển, đặc biệt là Ấn Độ "

- Cao Thinh - 

Nói chuyện cây



Hai năm sau câu chuyện 6.700 cây xanh, nỗi ám ảnh của nó vẫn treo lơ lửng trên bầu trời mùa hạ 40 độ của thủ đô Hà Nội.


Hãy điểm lại những gì đã đi vào ký ức của cộng đồng: câu nói bất hủ “Chặt cây mà cũng phải hỏi dân à?”, buổi họp báo kéo dài vỏn vẹn 10 phút với 21 câu hỏi không được trả lời, các biểu ngữ “Tôi yêu cây” quanh hồ Gươm... Vĩnh viễn nằm trong trí nhớ của tôi và tôi tin chắc của nhiều người khác là câu hỏi mang tính hiện sinh sâu sắc: “Mỡ hay vàng tâm?”.

Dự án “Chặt hạ, thay thế 6.700 cây xanh” vì một đô thị “văn minh, hiện đại” đã lặng lẽ bị xếp xó với tất cả những “quy hoạch khoa học và triển khai đúng quy trình” của nó.

Nhưng dường như tới giờ, chính quyền Hà Nội vẫn chưa rút ra được đầy đủ những bài học về minh bạch, về giải trình, về nghệ thuật đối thoại và làm việc với dân, tóm lại, về những gì quan trọng trong quản trị nhà nước, khi tuần qua báo chí liên tiếp đưa tin: “Hàng cây 1.300 gốc sắp bị chặt hạ” và “Hà Nội đề xuất thay thế 4.000 cây xà cừ”.

Lúc thì những cái cây phải nhường chỗ cho “phát triển”. Lúc thì chúng “u bướu”, “cong”, “nghiêng”, “già cỗi”, “thiếu thẩm mỹ”, “rễ nông, dễ đổ” và “các nước tiên tiến không trồng”.

Đã đến lúc phải phân tích sâu hơn các luận điểm này.

Luận điểm đầu tiên: Cây xà cừ không thích hợp với các thành phố nhiệt đới; người Pháp đã sai lầm khi trồng chúng ở Việt Nam; chúng ta đã đúng khi từ những năm 1960 không trồng chúng nữa và bây giờ chúng ta phải triệt hạ chúng hoàn toàn.

Ý kiến này có cơ sở thế nào?

Tên Latin của xà cừ là Khaya senegalensis, khá dễ dàng xác định nó xuất xứ từ châu Phi, nhưng trong thế kỷ 20 đã được trồng rộng rãi ở các quốc gia có khí hậu phù hợp khác.

Sau ba cái nhấn chuột, tôi gặp một tài liệu của Tổ chức quốc tế FAO về những chương trình phủ xanh đô thị của Chính phủ Malaysia từ thập kỷ 1970 tới 1990 nhằm biến đất nước này thành một “Quốc gia - Vườn” (Garden Nation).

Vào những năm 1980, khắp nơi ở Kuala Lumpur người ta tiến hành phương pháp “trồng cây tức thì” (instant tree planting) trồng những thân cây lớn, làm xanh thành phố gần như sau một đêm.

Đoạn giữa tài liệu này có một câu khiến tôi mở to mắt: “Các loài cây không bản địa mang tên Khaya senegalensis được coi là lý tưởng cho chương trình này”. Kèm theo là bức ảnh hàng xà cừ cao hơn nhà ba tầng chạy dọc một con đường đầy xe cộ. Không thấy họ nói gì về chuyện “rễ nông, dễ đổ”.

Ngược lại, theo Trung tâm Nông lâm nghiệp thế giới, xà cừ có bộ rễ cái sâu, chắc và khỏe, khiến chúng chịu hạn và vừa chịu lũ lụt tốt, “có thể trồng được cả ở đất sình lầy”.

Hai cái nhấn chuột tiếp theo đưa tôi tới Singapore. Trang mạng của Vườn bách thảo Singapore (Singapore Botanic Gardens) cho biết về loài Khaya senegalensis như sau: “Xuất xứ: châu Phi nhiệt đới. Loài này đã được du nhập Đông Nam Á hơn một thế kỷ trước.

Vào thập kỷ 1980 tại Singapore, nó trở thành cây đường phố được ưa chuộng vì tốc độ lớn nhanh, dễ ghép và khả năng chịu đựng những điều kiện đô thị khắc nghiệt”.

Thế còn bên ngoài Đông Nam Á thì sao? Tiến sĩ Roger Anold của Trường ĐH North Carolina cho biết: “Khaya senegalensis hay được trồng nhằm mục đích cảnh quan và tiện nghi ở những vùng nhiệt đới tại các lục địa.

Ở Tây Phi, loài cây này đã trở thành cây đô thị quan trọng. Ở Úc, nó được trồng ở thành phố Darwin. Ở tỉnh Hainan, Trung Quốc, nó trở thành một trong những loài cây bóng mát và cây tiện nghi (amenity tree) phổ biến nhất”.

Thuật ngữ “amenity tree” trở đi trở lại. Theo giải thích của tiến sĩ Kim Coder - ĐH Georgia, “amenity tree” (tôi tạm dịch là cây tiện nghi) là một cây có khả năng tăng tính hấp dẫn và sự dễ chịu của không gian xung quanh nó bằng cách “cung cấp sự che chở, an ủi và trợ giúp tâm lý cho con người”, khiến họ “thoải mái và hạnh phúc hơn”.

Vậy là ở nhiều quốc gia khác, cây xà cừ không chỉ được coi là cây bóng mát đơn thuần. Kích thước khổng lồ của nó, cái gồ ghề, sần sùi chính những cái “u bướu”, “cong”, “nghiêng” của nó, những cái làm gai mắt các quan chức Hà Nội, lại khiến nó trở thành nguồn an ủi và che chở cho những cư dân đô thị, là nơi lưu giữ thời gian, ký ức, lịch sử, là cái tạo bản sắc cho nơi chốn, tạo cảm giác thuộc về.

Một gốc cây là một thực thể sống và mang trong mình các yếu tố văn hóa và tâm lý, những thứ khiến nó khác một cột ximăng có mái che.

Trong khi Sở Xây dựng Hà Nội toan loại bỏ cây xà cừ vì chúng mắc tội “già cỗi” thì ở Singapore, cây xà cừ do ông Lý Quang Diệu trồng vào tháng 11-1980 gần hồ Thiên nga (Swan Lake) nay đã cao 48m, được đưa vào danh sách cây di sản (Heritage Tree) cùng hàng trăm cây đầy “u bướu” khác.

Chính sự “già cỗi” của chúng đã biến chúng thành những “landmark” - những cột mốc cảnh quan cần được bảo vệ như những di sản thiên nhiên.


                   Những gốc xà cừ cổ thụ trên đường Phạm Văn Đồng (Hà Nội) -Nam Trần

Quay lại với 1.300 cây dọc đường Phạm Văn Đồng. Thật tiện lợi khi coi chúng là những vật cản trở “phát triển” và “sự thịnh vượng của con người”. Diễn ngôn này đang được dùng để biến thiên nhiên thành máy đẻ lợi nhuận.

Nhưng phát triển không có nghĩa là chặt hạ vô cảm. Giữ cây không có nghĩa là ưa thích đói nghèo, lạc hậu.

Ngược lại, những người không nhìn thấy sự uy nghi của những cánh rừng, không nhìn thấy phẩm giá của những gốc cây già trong thành phố và trân trọng giá trị của chúng trong cuộc sống hiện đại, cho rằng phải loại bỏ chúng để “phát triển”, sẽ có nguy cơ đi theo một đường hướng phát triển méo mó.

Các nhà chức trách Hà Nội sẽ phải có chứng cứ rất tốt, rất đầy đủ để chứng minh cho công luận rằng họ thực sự không có cách nào khác là phải chặt bỏ 1.300 gốc cây kia đi.

Và họ sẽ phải dành nhiều thời gian, không gian để đối thoại với người dân, với các tổ chức xã hội, với các nhà chuyên môn để tìm ra giải pháp tối ưu. Quan điểm cây phải nhường bêtông thì mới văn minh đã lỗi thời.

Một thành phố chỉ đầy cầu vượt, đường trên cao, cao ốc mà thiếu cây xanh, công viên, hồ nước... là một thành phố thảm hại.

Một chiến lược phát triển đô thị mà quên đi những điều này là một chiến lược nuôi dưỡng xung đột và sự bất bình âm ỉ giữa người dân với chính quyền, và tôi không cho rằng đó là di sản mà chính quyền Hà Nội đang hướng tới. 


- Đăng Hoàng Giang -

Báo động tình trạng ô nhiễm môi trường sông Bắc Hưng Hải

Rác thải gây ô nhiễm nguồn nước sông Sài Thị (thuộc hệ thống sông Bắc Hưng Hải) tại xã Thuần Hưng (Khoái Châu, Hưng Yên).


Theo bạn đọc phản ánh, trong thời gian gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường nước mặt thuộc hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải, đoạn qua địa phận tỉnh Hưng Yên ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.

Trước thực trạng này, các cơ quan chức năng cần sớm tìm rõ nguyên nhân gây ô nhiễm, đồng thời xử lý nghiêm đối với các cơ sở sản xuất, nhà máy xả thải.

Hệ thống sông Bắc Hưng Hải (BHH) được xây dựng từ năm 1958, có tổng chiều dài hệ thống sông chính khoảng 232 km và hơn 2.000 km kênh nhánh các loại, chủ yếu ở các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh. Nguồn nước cấp cho hệ thống BHH lấy từ sông Hồng qua cống Xuân Quan, thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, phục vụ tưới, tiêu cho khoảng 110 nghìn ha đất canh tác lúa, hoa màu, cây công nghiệp; cung cấp nước cho chăn nuôi, thủy sản và nước sinh hoạt cho nhân dân trong khu vực. Hệ thống sông BHH thuộc địa phận tỉnh Hưng Yên có sông chính và các phụ lưu với tổng chiều dài hơn 100 km, cung cấp nước cho khoảng 50.000 ha đất canh tác và đầm hồ nuôi trồng thủy sản.

Hệ thống BHH được xây dựng với mục đích chính là cung cấp nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp; nhưng trong quá trình phát triển đô thị hóa và công nghiệp hóa, hiện nay hệ thống sông BHH phải đảm nhận thêm chức năng tiếp nhận nước thải dân sinh, nước thải từ các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các bệnh viện, làng nghề, cơ sở chăn nuôi, thậm chí cả rác thải… với lưu lượng ngày càng lớn.

Ở tỉnh Hưng Yên, tổng lượng nước thải phát sinh trên địa bàn đang xả thải vào môi trường khoảng 134.401 m3/ngày đêm, chủ yếu xả thải vào sông BHH và các sông nhánh; trong đó, nước thải của các khu, cụm công nghiệp và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chiếm 28%; nước thải của các cơ sở y tế chiếm 2%; nước thải của khu dân cư, các làng nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhỏ lẻ, cơ sở chăn nuôi chiếm 70%. Phần lớn lượng nước thải chưa qua xử lý hoặc có qua xử lý cũng chưa đạt tiêu chuẩn.

Ngoài ra, tại đầu nguồn sông BHH phải tiếp nhận lượng nước bị ô nhiễm có nguồn gốc từ nước thải công nghiệp, dịch vụ, làng nghề, dân sinh dọc lưu vực sông Cầu Bây chạy qua quận Long Biên và huyện Gia Lâm (Hà Nội) qua cống Xuân Thụy. Ðây cũng là nguyên nhân làm nguồn nước sông BHH ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng. Nước sông Cầu Bây mầu đen, sủi bọt trắng thường xuyên xả vào sông BHH, với tần suất ngày một tăng lên; mỗi tuần từ hai đến ba lần, mỗi lần kéo dài một đến hai ngày.

Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên Trần Ðăng Anh cho biết, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng nêu trên do hệ thống sông BHH phải tiếp nhận nhiều nguồn nước thải với lưu lượng ngày càng lớn, dẫn đến quá tải; nhất là nước thải chưa được xử lý hoặc đã xử lý nhưng chưa đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. Hệ thống sông BHH thường xuyên đóng để trữ nước nên tình trạng nước ứ đọng, không lưu thông, chủ yếu vào mùa khô cũng góp phần gây ô nhiễm. Việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường chưa được nghiêm, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các tỉnh, thành phố trong việc quản lý, xử lý nguồn nước xả thải gây ô nhiễm…

Trước tình trạng này, tỉnh Hưng Yên đã đưa ra giải pháp ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường trên hệ thống sông BHH như quy định các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải đạt giá trị giới hạn quy định tại cột A (đạt chuẩn A) của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Triển khai mô hình phân loại, xử lý rác thải sinh hoạt hữu cơ tại hộ gia đình. Lắp đặt hệ thống nhận dữ liệu quan trắc tự động, thiết bị giám sát lấy mẫu tự động nước thải sau xử lý của các đơn vị có lưu lượng nước thải, khí thải lớn, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định bảo vệ môi trường, xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường hiệu quả chưa cao; nhất là việc ngăn chặn nguồn nước ô nhiễm từ sông Cầu Bây chảy vào hệ thống sông BHH. Do vậy, để giải quyết khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường nước sông BHH cần có sự vào cuộc và phối hợp của các bộ, ngành, địa phương cải tạo, nâng cấp toàn hệ thống sông BHH, bảo đảm sông BHH ngoài chức năng tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp hiện nay có thêm chức năng tiêu thoát nước thải cho công nghiệp, dân sinh trong tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của khu vực phát triển nhanh.

Xây dựng mạng lưới quan trắc tự động đánh giá chất lượng nước tưới tiêu trên hệ thống sông BHH gửi kết quả cho các tỉnh, thành phố có hệ thống sông BHH để cảnh báo người dân, các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan có biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng.

Kiểm tra, đánh giá và xác định nguyên nhân làm nước sông Cầu Bây bị ô nhiễm; tăng cường thanh tra, kiểm tra theo thẩm quyền việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhất là các cơ sở có phát sinh nước thải lớn xả thải vào hệ thống sông Cầu Bây. Sớm đầu tư, xây dựng đưa vào vận hành những công trình xử lý nước thải đô thị trên địa bàn quận Long Biên theo kế hoạch của UBND thành phố Hà Nội về việc phát triển hệ thống thu gom và xử lý nước thải đô thị TP Hà Nội giai đoạn đến năm 2020.

Các cơ quan quản lý thường xuyên trao đổi, chia sẻ thông tin về thực trạng các nguồn xả nước thải vào sông và chất lượng nước sông, các biện pháp đã và đang thực hiện nhằm khắc phục tình trạng nước sông bị ô nhiễm…


"Hệ thống sông Bắc Hưng Hải trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có chín dòng sông, kênh (chiếm 25% tổng số sông, kênh điều tra, khảo sát trên địa bàn tỉnh Hưng Yên) bị ô nhiễm rất nghiêm trọng; 12 dòng sông, kênh ô nhiễm nghiêm trọng; 15 dòng sông, kênh ô nhiễm trung bình. Năm 2015 và 2016, khi lấy 165 mẫu nước mặt, phân tích 19 chỉ tiêu về môi trường, kết quả cho thấy 100% mẫu nước mặt có chỉ tiêu phân tích vượt quy chuẩn kỹ thuật; trong đó, có nhiều chỉ tiêu vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường từ vài lần đến hàng chục lần...".
(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên)

"Nguồn nước sông Bắc Hưng Hải bị ô nhiễm nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân. Chúng tôi cho rằng, nguyên nhân chính là do một số nhà máy trên địa bàn xả thải. Ðề nghị các cơ quan chức năng xử lý nghiêm các doanh nghiệp cố tình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường...".

VŨ THỊ TÌNH
(Xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên)




- PHẠM HÀ-

Green Trees đề xuất giải pháp để không phải chặt 1300 cây xanh




Hà Nội những ngày nắng kỷ lục trong gần nửa thế kỷ qua này lại càng nóng thêm khi báo chí đưa tin: Hơn 1.300 cây xanh nằm hai ven đường Phạm Văn Đồng, Hà Nội sẽ phải di dời, chặt hạ, mà chủ yếu là chặt, trước ngày 30/9 để thi công dự án đầu tư mở rộng đường vành đai 3 đoạn Mai Dịch - cầu Thăng Long.

Đây là công trình do Ban quản lý đầu tư xây dựng công trình giao thông Hà Nội (Sở Giao thông - Vận tải TP. Hà Nội) - sau đây gọi tắt là Ban quản lý dự án – làm chủ đầu tư. Theo kế hoạch, đơn vị thi công sẽ chặt hạ hơn 1.000 cây, di chuyển 158 cây, cắt tỉa 142 cây.

Với tư cách là một tổ chức dân sự hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và thúc đẩy trách nhiệm giải trình cũng như tính minh bạch của chính quyền, Green Trees có ghi nhận như sau:

1. Chưa hề thấy Ban quản lý dự án công bố Báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường.

2. Chưa hề có khảo sát, tham vấn, thăm dò ý kiến người dân trong khu vực chịu ảnh hưởng của dự án (đặc biệt là ở những nơi sẽ bị chặt cây, nhưng không chỉ ở những nơi đó). Cũng may, và chúng tôi cũng ghi nhận, là báo chí đã được biết đến và đưa tin tương đối kịp thời về dự định chặt hạ hơn 1000 cây này.

3. Không một tổ chức xã hội dân sự nào được tham vấn, hỏi ý kiến trong quá trình triển khai dự án, chứ chưa nói tới việc được tham gia phản biện, giám sát độc lập.

4. Ban quản lý dự án khẳng định việc di dời, chặt hạ cây xanh là bắt buộc.

Green Trees nhận định rằng:

1. KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN VIỆC KHÔNG CÓ, HOẶC KHÔNG CÔNG KHAI BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

Việc xây dựng, mở rộng đường Vành đai 3 thuộc diện buộc phải lập Báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường, trong đó, phải nêu chi tiết cả kế hoạch chặt hạ, di dời cây.

Ngoài ra, số cây mà Ban quản lý dự án muốn chặt hạ, di dời (hơn 1.300, trong đó, chặt hơn 1.000 cây) là một con số rất lớn. Điều này càng khiến cho việc lập, công bố và thẩm định công khai Báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường là việc bắt buộc.

2. CHẶT HẠ CÂY KHÔNG PHẢI LÀ BẮT BUỘC, BẢO VỆ CÂY MỚI LÀ BẮT BUỘC

Chặt hơn 1.000 cây chính là hành vi chặt hạ hàng loạt cây xanh. Đây là điều không thể được chấp nhận trong mọi dự án xây dựng và phát triển đô thị trên thế giới. Xin nhấn mạnh: Phát triển bền vững là sự phát triển để đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ hiện tại MÀ KHÔNG HY SINH các thế hệ tương lai.

Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội... phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa ba lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường.

Để phát triển bền vững, phải bảo đảm môi trường không bị tổn hại. Không thể có bất kỳ lý do gì để biện minh cho việc chặt hạ hàng trăm, hàng nghìn cây xanh.

Trong hoàn cảnh Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng: Người dân Việt Nam và Hà Nội đều đang phải chịu tác động của biến đổi khí hậu. Thêm vào đó, nhân dân thủ đô đang rất khổ sở trước nạn bê-tông hóa thành phố, ô nhiễm không khí do khói bụi xe, do nông thôn… đốt rạ, do đất cát từ các công trường xây dựng… Trong khi ấy thì các đô thị đều thiếu cây trầm trọng.

Nghĩa là, không chỉ thế hệ tương lai mà thế hệ hiện tại cũng đang điêu đứng vì ô nhiễm môi trường và sự tàn phá môi trường nhân danh “phát triển”.

Điều này thực sự là không thể chấp nhận được.

3. LUÔN CÓ GIẢI PHÁP ĐỂ KHÔNG PHẢI CHẶT CÂY

Green Trees tin chắc rằng nếu mọi dự án quy hoạch và phát triển đô thị đều có sự tham vấn đông đảo người dân và xã hội dân sự, bảo đảm minh bạch và dân chủ, thì mọi vấn đề đều có giải pháp.

Chúng tôi cũng xin đề xuất giải pháp sau đây để bảo vệ hơn 1.300 cây xanh đường Phạm Văn Đồng:

- Hiện trạng lúc này: Đường Phạm Văn Đồng dành cho các loại phương tiện giao thông cùng di chuyển. Hai bên đường là hàng cây xanh mà Ban quản lý dự án đang đòi chặt hạ.

- Đường mở rộng gồm đường hiện nay mở rộng sang hai bên, và hai hàng cây xanh khi đó sẽ trở thành đứng giữa đường mở rộng. (Vì thế, Ban quản lý dự án muốn chặt).

- Đề xuất: Giữ nguyên đường hiện nay và chỉ dành cho các loại xe cơ giới lưu thông. Phần đường mở rộng sang hai bên dành cho xe thô sơ di chuyển. (Xin xem hình vẽ).

Phương án này có các ưu điểm: Phân làn đường, bảo đảm sự an toàn cho các phương tiện giao thông vận tải; giữ lại được cả hai hàng cây.

Đây chỉ là một đề xuất của Green Trees, và một lần nữa xin nhắc lại: Chúng tôi tin chắc rằng nếu mọi dự án quy hoạch và phát triển đô thị đều có sự tham vấn đông đảo người dân và xã hội dân sự, bảo đảm minh bạch và dân chủ, thì luôn có giải pháp cho mọi vấn đề. Sẽ có rất nhiều đề xuất khác hợp lý hơn và tốt hơn để vừa phát triển vừa bảo vệ môi trường cho tất cả chúng ta.

4. YÊU CẦU

Chúng tôi đề nghị Ban quản lý dự án và các bên liên quan:

- Đưa ra bản vẽ quy hoạch chi tiết. Nếu nói bắt buộc phải chặt thì dựa vào tính toán nào mà lại nói như vậy?

- Cân nhắc đề xuất của Green Trees;

- Lưu ý đến việc lập, công bố Báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường;

- Lưu ý đến việc tham vấn người dân và các tổ chức xã hội dân sự trong quá trình triển khai dự án;

- Hủy bỏ ngay lập tức kế hoạch chặt hạ, di dời cây trên đường Phạm Văn Đồng và trong khu vực dự án.


- Green Trees -
Vùng tệp đính kèm

Ống Trung Quốc dẫn nước ăn TP.HCM: Sao không chọn Châu Âu?





Dùng loại ống gì đều phải tính toán so sánh, vì tuổi thọ cả trăm năm và chi phí đầu tư bảo trì quá lớn, không hề đơn giản.

Vấn đề chính là nhà thầu cụ thể của Trung Quốc

Mới đây, UBND TP.HCM đang chỉ đạo Sở KHCN phối hợp với Sở GTVT, Sở Y tế, Tổng Công ty TNHH MTV Cấp nước Sài Gòn (SAWACO), Công ty Cổ phần hạ tầng nước Sài Gòn… làm rõ có hay không ảnh hưởng chất lượng nước sạch khi sử dụng các loại ống gang.

Trước đó, tháng 6/2016, ông Trương Văn Hải - nguyên cán bộ SAWACO, gửi đơn lên Thành ủy, HĐND, UBND TP.HCM, nói rõ SAWACO sẽ đầu tư phát triển hơn 260 km mạng đường ống cấp 1,2 để tiếp nhận các nguồn nước sạch, sử dụng ống gang dẻo do các công ty Trung Quốc sản xuất như Xinxing, Sun.

Đặc biệt, ống gang dẻo Trung Quốc được đúc từ những phế phẩm của PLA (vật liệu phân hủy sinh học), các sản phẩm bom mìn hay những vũ khí hết hạn sử dụng. Do vậy, ống gang dẻo Xinxing được chào bán ở Việt Nam rẻ hơn nhiều so với các sản phẩm khác và có thể bán với mọi giá.

Là người giảng dạy trong bộ môn Cấp thoát nước, là chuyên gia giao thông công chính trong TPHCM, trao đổi với Đất Việt, ngày 20/5, TS Phạm Sanh cho biết: "Thông tin cá nhân nguyên cán bộ SAWACO phản ánh lên các cấp lãnh đạo cao nhất của thành phố gần cả năm, bây giờ UBND TP mới có văn bản chỉ đạo các Sở Ban Ngành và SAWACO làm rõ chất lượng nước khi sử dụng ống gang dẻo của một số nhà sản xuất Trung Quốc.

Theo tôi đây là việc làm hơi chậm trong xử lý thông tin về hiệu quả đầu tư công, về tác động ảnh hưởng sức khỏe người dân, trong lúc cả nước và TP HCM không thiếu chuyên gia về cấp nước đô thị. Thật ra thông tin này, về khoa học và thực tế, chưa có độ chính xác cao cho lắm".

Bên cạnh đó, theo ông Sanh, đường ống cấp nước bằng gang ra đời rất sớm, từ giữa thế kỷ 15, nhờ cường độ cao và sử dụng bền, các vật liệu khác khó cạnh tranh. Đến năm 1948, thế giới bắt đầu dùng ống gang dẻo, phát huy thêm các ưu điểm và khắc phục khuyết điểm của ống gang thường (trọng lượng bản thân, địa chất phức tạp, tải trọng ngoài lớn...).

Sau này, dù có sự xuất hiện của ống PVC, ống HDPE, ống composit..., ống gang dẻo vẫn giữ được gíá trị của nó, đặc biệt đường ống cấp nước đô thị có đường kính lớn. Ống gang dẻo, nếu được thi công và chống ăn mòn tốt có thể có tuổi thọ từ 50 đến trên 100 năm.

"Giống như các loại ống bằng kim loại, ống gang dẻo vẫn bị ăn mòn cả bên ngoài lẫn bên trong. Tuy mức độ ăn mòn rất nhỏ (so với tuổi thọ công trình), người ta vẫn gia cố chống ăn mòn ống cả bên ngoài và bên trong. Bên trong ống, thường dùng vữa xi măng hoặc PUR (Polyurethane).

Ống gang dẻo có thể làm từ phế liệu hoặc tái chế. Đây cũng là một ưu điểm về thân thiện môi trường, giảm phát khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

Do vật liệu gang dẻo sử dụng làm ống cấp nước đã có từ lâu tại hầu hết các thành phố trên thế giới, nên hiện nay có khá nhiều tiêu chuẩn về chất lượng vật liệu, thi công lắp đặt, bọc trám ống và thí nghiệm (EN 15655:2009, ISO 2531:2009, ANSI/AWWA/ASTM...). Cả Việt Nam cũng có TCVN 10177:2013.

Như vậy, cần phân biệt rõ 3 khái niệm: công nghệ ống gang dẻo, ống gang dẻo của Trung Quốc và ống gang dẻo của nhà thầu hay nhà sản xuất Trung Quốc.

Về công nghệ hay vật liệu gang dẻo thì không có gì phải tranh luận, nếu ảnh hưởng sức khỏe hay xấu môi trường thì thế giới đã có nhiều thông tin rồi. Nói ống gang dẻo của Trung Quốc cũng quá chung chung. Vấn đề còn lại chính là nhà thầu cụ thể của Trung Quốc.

Đúng ra là cách tổ chức thực hiện đấu thầu quốc tế lựa chọn nhà thầu ra sao, rồi năng lực và trách nhiệm quản lý hợp đồng của chủ đầu tư thế nào?", ông Sanh nhấn mạnh.

Không chỉ TP.HCM

Ở góc độ khác, theo ông Sanh, hệ thống cấp nước đô thị rất quan trọng, không những đáp ứng yêu cầu sử dụng nước sạch cho người dân và doanh nghiệp, còn phải đảm bảo yêu cầu vệ sinh, sức khỏe, môi trường, chữa cháy, thậm chí an ninh quốc phòng.

Dùng loại ống gì đều phải tính toán so sánh, vì tuổi thọ cả trăm năm và chi phí đầu tư bảo trì quá lớn, không hề đơn giản.

"Không ai dám sử dụng các vật liệu nguy hại làm đường ống dẫn nước gây nguy hiểm cho sức khỏe người dân khi sử dụng lâu dài (trực tiếp hay gián tiếp). Phải dựa vào tiêu chuẩn kỹ thuật, thông tin thế giới và các cơ sở khoa học lẫn thực tiển để lựa chọn đúng công nghệ, đúng nhà thầu có uy tín và kinh nghiệm.

Nhất là phía Việt Nam, từ cơ quan quản lý nhà nước đến cán bộ quản lý dự án cụ thể, phải có trách nhiệm trước dân", ông Sanh cho biết thêm.

Trước thực trạng không chỉ có TPHCM, đường ống nước sông Đà Hà Nội đến nay cũng đang chuẩn bị được cung cấp bởi nhà thầu Xinxing, vị chuyên gia trên phân tích: "Theo tôi, cứ làm đúng luật Đấu thầu và các quy định pháp luật khác có liên quan. Nếu Nhà thầu Trung Quốc đủ năng lực, có các điều kiện về kỹ thuật và về giá tốt nhất, thì họ trúng thầu không có gì ngạc nhiên.


- Đất Việt -
Vùng tệp đính kèm

Sự nóng lên toàn cầu



Trong một thế giới tràn ngập rác thải, ô nhiễm... con người đang phải chịu đựng những tổn thất nặng nề về kinh tế, và nhất là sức khoẻ. Mọi nỗ lực của rất nhiều tổ chức, cá nhân khắp nơi để chiến đấu chống lại điều đó đã đem lại những thành tựu lớn lao. Tuy nhiên, điều đó chưa bao giờ là đủ nếu mỗi cá nhân trong chúng ta thờ ơ.

Các bạn có biết, những nguồn nguyên liệu hoá thạch đang huỷ hoại môi trường sống của chúng ta ra sao không? Và đằng sau nó là những tập đoàn, những ngân hàng lớn sẵn sàng bỏ tiền ra, tất cả vì lợi nhuận.

Chúng tôi muốn cùng các bạn, hãy kêu gọi các nhà đầu tư, ngân hàng hãy ngừng ngay việc bỏ vốn vào những dự án có sử dụng nguyên liệu hoá thạch. Hãy bảo vệ môi trường sống của chúng ta, vì tương lai của Trái đất này


- Green Trees-

Thuế bảo vệ môi trường: Có thực vì môi trường?








Thu thuế bảo vệ môi trường là để bảo vệ môi trường, không thể đóng vai trò nào khác.

Lộ trình mà Chính phủ vạch ra để Luật thuế bảo vệ môi trường (BVMT) sửa đổi được thông qua chỉ trong bốn tháng:

trình dự án luật tại kỳ họp Quốc hội tháng 6, được thẩm tra bởi Ủy ban Tài chính - ngân sách Quốc hội tháng 7, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét tháng 8, gửi đại biểu Quốc hội cho ý kiến tháng 9 và trình Quốc hội xem xét thông qua tháng 10 năm nay.

Một đạo luật ảnh hưởng trực tiếp và sâu rộng đến túi tiền của người dân nhưng các cơ quan quản lý nhà nước lại mong muốn được thông qua với một lộ trình “thần tốc” như vậy, liệu các tác động tiêu cực khi sửa đổi luật có được xem xét thấu đáo và toàn diện?

Thủ phạm chính gây ô nhiễm được nương nhẹ

Luật thuế BVMT hiện hành quy định khung thuế các sản phẩm xăng dầu và đã áp dụng kịch khung thuế xăng, nhiên liệu bay và dầu diesel.

Trọng tâm của dự thảo Luật thuế BVMT sửa đổi là đề xuất tăng khung thuế của xăng, nhiên liệu bay và dầu diesel, trong khi đó các sản phẩm than đá được giữ nguyên khung thuế. So sánh nguồn thu thuế BVMT giữa xăng dầu, than đá và các loại khác từ số liệu thống kê của Bộ Tài chính trong các năm qua để thấy rõ sự chênh lệch về nguồn thu trong biểu đồ sau (xem biểu đồ 1).

Tổng hợp cho thấy đóng góp thuế BVMT từ than đá giảm, trong khi đóng góp từ xăng dầu liên tục tăng trong tổng nguồn thu thuế BVMT. Từ đó có thể nói xăng dầu đang đóng vai trò xương sống về nguồn thu thuế BVMT trong thời gian qua tại Việt Nam và dự kiến trong những năm tới.

Luật hiện hành định nghĩa: “Thuế BVMT là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường”.

Như vậy, có thể hiểu rằng “tác động xấu đến môi trường” chính là thước đo để tính thuế, là cơ sở để quyết định mức thuế của mỗi loại sản phẩm, hàng hóa là cao hay thấp.

Hãy so sánh tác động môi trường giữa xăng dầu và than đá để thấy rõ Luật thuế BVMT hiện hành và dự thảo sửa đổi có một sự ưu ái về thuế một cách đáng ngạc nhiên và khó hiểu đối với than đá.

Theo thống kê của Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), tổng phát thải CO2 do tất cả các hoạt động đốt nhiên liệu của Việt Nam năm 2014 là 143,3 triệu tấn, trong đó than đá đóng góp 55%, xăng dầu 30% và khí 15%, có nghĩa than đá mới chính là nguồn phát thải gây ô nhiễm chi phối tại Việt Nam, chứ không phải xăng dầu.

Biểu đồ 2 hiển thị rõ hơn về diễn biến phát thải CO2 từ các nguồn nhiên liệu khác nhau tại Việt Nam, trong đó than đá vượt qua xăng dầu từ năm 2006 và chi phối tổng lượng phát thải cho đến nay.

Cũng từ số liệu của IEA về đốt nhiên liệu, ngành sản xuất điện năng và nhiệt năng Việt Nam đóng góp 35% lượng phát thải CO2, ngành công nghiệp và xây dựng đóng góp 34% lượng phát thải CO2, trong khi đó ngành giao thông chỉ đóng góp 22% lượng phát thải CO2.

Điều đó có nghĩa rằng giao thông, một ngành đang sử dụng nhiên liệu là xăng dầu để hoạt động, không phải là ngành gây ô nhiễm chính tại Việt Nam, nhưng xăng dầu phải “đóng vai trò chủ đạo” về BVMT một cách bất đắc dĩ thông qua việc phải đóng góp tới 98% nguồn thu thuế BVMT như hiện nay.

Trong khi đó, các ngành công nghiệp nặng sử dụng rộng rãi than đá, có nguy cơ ô nhiễm cao như sản xuất điện năng (nhà máy nhiệt điện than), công nghiệp luyện thép, ximăng, hóa chất... đang tận hưởng chính sách ưu đãi thuế BVMT một cách “bất ngờ”.

Đó là xét về mặt vĩ mô của nền kinh tế, hãy xem tiếp về vi mô trên quan điểm so sánh tác động môi trường của mỗi đơn vị sản phẩm xăng dầu và than đá cũng như mối tương quan về mức thuế BVMT hiện nay.

Theo số liệu của Cơ quan Thông tin năng lượng Hoa Kỳ (USEIA), để cùng tạo ra một đơn vị năng lượng như nhau (Kcal, mmBtu hoặc GJ), lượng phát thải từ đốt than cao hơn từ đốt dầu với từng chất ô nhiễm không khí cụ thể như sau: SO2 gấp 2,3 lần; bụi gấp 32,7 lần; CO2 gấp 6,3 lần và thủy ngân gấp 2,3 lần.

Tất nhiên, lượng phát thải cao hay thấp còn tùy thuộc vào từng loại than hay từng loại xăng dầu cũng như công nghệ đốt, điều kiện vận hành, tuổi thọ thiết bị... nhưng xét về bản chất thành phần hóa học, than đá rõ ràng “dơ bẩn” hơn xăng dầu nhiều lần.

Ví dụ, hàm lượng lưu huỳnh tối đa trong xăng A92 là 350 mg/kg, trong dầu diesel (DO 0.05S) là 500 mg/kg (theo tiêu chuẩn của Petrolimex TCCS 01:2015/PLX và TCCS 03:2015/PLX) so với hàm lượng lưu huỳnh tối đa trong than là 1,75-9%, tương đương với 17.500-90.000 mg/kg (tùy loại than, theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8910:2011), hoặc độ tro trong dầu diesel (DO 0.05S) chỉ là 0,01% trong khi trong than cho phép từ 3-45%.

Nghĩa là hàm lượng lưu huỳnh trong than cao hơn từ 35-257 lần trong xăng dầu, hàm lượng tro trong than cao hơn từ 300-4.500 lần trong xăng dầu! Điều này giải thích vì sao đốt than gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng vượt bậc so với đốt xăng dầu.

Với mức thuế BVMT hiện hành, so với than đá, xăng cao gấp 80 lần, dầu diesel cao gấp 40 lần (tính với mức thuế tối đa), liên tưởng đến thước đo “tác động xấu đến môi trường” với những phân tích so sánh về tác động môi trường của xăng dầu và than đá trên đây, rõ ràng Luật thuế BVMT hiện hành và dự thảo Luật thuế BVMT sửa đổi đang nương nhẹ với than đá một cách khó hiểu!

Phải chăng mức thuế thấp đó chính là động lực thu hút đầu tư tràn lan các nhà máy nhiệt điện than trong thời gian qua? Hay ngược lại, đánh thuế BVMT cực thấp đối với than để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển nhiệt điện than?

Tăng nguồn thu thuế, cách nào?

Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), việc xem xét đánh thuế nhiên liệu hóa thạch chủ yếu dựa trên mức độ đóng góp tác động đến biến đổi khí hậu và mức độ gây ô nhiễm không khí, từ đó cơ sở đánh thuế nhiên liệu là dựa trên phát thải carbon (tấn CO2 tương đương) hoặc dựa trên đơn vị nhiệt lượng (Kcal, mmBtu hoặc GJ).

Áp dụng cách tiếp cận dựa trên phát thải carbon để quy đổi thuế BVMT hiện nay với xăng, dầu diesel và than theo thuế carbon trong biểu đồ 3 (xem bảng 1).

Theo tổng hợp của Ngân hàng Thế giới (WB), tính đến tháng 2-2017 đã có 24 quốc gia và vùng lãnh thổ đánh thuế carbon, trong đó mức thuế cao nhất là 130 USD/tấn tại Thụy Điển, mức thuế thấp nhất là 1 USD/tấn tại Ba Lan.

85% mức thuế đang áp dụng thấp hơn 10 USD/tấn tại Iceland, Latvia, Estonia, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, New Zealand, Nhật Bản...

Nếu so sánh mức thuế này với thuế BVMT hiện nay tại Việt Nam, thuế BVMT của xăng cao gấp 7,5 lần và của dầu diesel cao gấp 3,3 lần, trong khi của than đá chỉ bằng 1/1.250 lần mức trung bình của thế giới! Thật khó tìm ra cơ sở khoa học để lý giải cho sự bất hợp lý này.

Do vậy, để gọi là “hội nhập quốc tế”, nên chăng quy định một mức thuế đồng bộ 10 USD/tấn carbon cho tất cả các loại nhiên liệu hiện nay trong khung thuế BVMT sửa đổi? (xem bảng 2).

Do việc áp dụng mức thuế BVMT sửa đổi dựa trên giá carbon như trên có thể dẫn đến sự sụt giảm tổng số thu thuế BVMT của năm 2017 so với năm 2016, nên “để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và nhân dân”, mức thuế điều chỉnh 1.000 đồng/lít xăng dầu và 1.000 đồng/kg than đá được đề nghị (xem bảng 3).

Với mức thuế BVMT này, nguồn thu thuế từ than đá là 45.000 tỉ đồng, từ xăng là 2.800 tỉ đồng và từ dầu diesel là 3.800 tỉ đồng, tổng cộng là 51.600 tỉ đồng, tăng đến 10.538 tỉ đồng so với năm 2016.

Theo việc phát triển mạnh của các nhà máy nhiệt điện than, chắc chắn cách tiếp cận này sẽ làm cho tổng thu thuế BVMT tăng nhanh trong những năm tới.

Cụ thể, theo quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 14-3-2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030, dự kiến tiêu thụ than năm 2020 là 86,4 triệu tấn, năm 2025 là 121,5 triệu tấn và năm 2030 là 156,6 triệu tấn.

Nghĩa là, số thu thuế BVMT chỉ riêng với than đá năm 2020 là 86.400 tỉ đồng, năm 2025 là 121.500 tỉ đồng và năm 2030 là 156.600 tỉ đồng. Đó thực sự là những con số mơ ước cho ngân sách nhưng vẫn đảm bảo tính công bằng về thuế khi xét đến khả năng gây “tác động xấu đến môi trường” của từng loại nhiên liệu đã đề cập.

Như tên gọi của nó, Luật thuế BVMT ra đời nhằm thu thuế để Nhà nước thực hiện điều tiết việc BVMT.

Luật thuế BVMT hiện hành và dự thảo sửa đổi chỉ quy định việc thu thuế nhưng lại không hề quy định số thu thuế sẽ được quản lý và sử dụng như thế nào, đây rõ ràng là một thiếu sót rất lớn dẫn đến việc sử dụng sai ngân sách lẽ ra phải dùng cho việc BVMT.

Điều này cũng là cơ sở để người dân đặt câu hỏi về sự minh bạch trong sử dụng thuế BVMT thời gian qua. Nghĩa là, muốn “tăng thu thuế môi trường sẽ được lòng dân hơn”, chỉ có cách sử dụng toàn bộ thuế BVMT thu được để đầu tư ngược lại cho các hoạt động BVMT.

“Động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu cho ngân sách” để không “gây thiệt hại cho quốc gia” thông qua đề xuất tăng thuế BVMT mà chủ yếu là tăng thuế xăng dầu như hiện nay rõ ràng không phải là cách tiếp cận hài hòa khi còn nhiều câu hỏi về việc thu thuế và sử dụng tiền thuế chưa trả lời được.

Thu thuế BVMT là để BVMT, thuế BVMT không thể nào đóng vai trò gì khác!


- Tuổi trẻ -