Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiến lược & Chính sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiến lược & Chính sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Hà Nội: Tới năm 2020 - 100% người dân được uống nước sạch tại vòi



Sáng 13/6, đồng chí Nguyễn Đức Chung, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP đã chủ trì buổi làm việc với các sở ngành, doanh nghiệp và nhà đầu tư bàn về thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống nước sạch đến năm 2020 trên địa bàn thành phố.

Tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung nhấn mạnh: mục tiêu của thành phố đến năm 2020 là 100% người dân Hà Nội phải được cấp nước sạch và tiêu chuẩn nước sạch được đặt ra là phải “uống được tại vòi”. Bên cạnh đó, để giữ gìn tài nguyên, các nhà máy nước phải chuyển hoàn toàn sang sử dụng nước mặt. Chủ tịch cho biết, TP coi việc đẩy nhanh cung cấp nước sạch là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Với mục tiêu này, các nhà máy nước cung cấp nước sạch khu vực nội đô phải khẩn trương nghiên cứu, bổ sung công nghệ lọc, trình phương án trong tháng 8/2017 để triển khai vào năm 2018. Các doanh nghiệp cấp nước cần rà soát hệ thống mạng cấp nước, không để thất thoát; thay đổi, điều chỉnh công nghệ để có thể sục rửa mạng cấp nước định kỳ; xây dựng đề án củng cố bộ máy, phương thức quản lý, không để thất thoát, tham nhũng…

Về nước sạch tại khu vực nông thôn, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung yêu cầu tiếp tục phát triển mạng lưới cấp nước để lấy nguồn nước sạch của các nhà máy hiện có, đi đôi với khuyến khích nhà đầu tư xây dựng nhà máy mới. Để khuyến khích các doanh nghiệp, nhà đầu tư cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, Chủ tịch cho biết, TP sẽ giúp các doanh nghiệp kết nối với các ngân hàng; dành 800 đến 1.000 tỷ đồng cho vay lãi suất thấp hoặc không lãi suất để hỗ trợ về nguồn vốn, ưu tiên các doanh nghiệp phát triển những dự án ở các huyện xa như Mỹ Đức, Mê Linh, Chương Mỹ, Thường Tín, Phú Xuyên… Ngoài ra, TP cũng sẽ tổ chức kết nối các nhà đầu tư với các doanh nghiệp cung cấp vật tư để bảo đảm đồng bộ và chất lượng. TP cam kết đẩy mạnh cải cách hành chính để hỗ trợ đầu tư trên lĩnh vực này theo hướng là giao Sở Xây dựng là đầu mối duy nhất tiếp nhận và giải quyết các hồ sơ dự án đầu tư, đồng thời, cho phép cơ chế vừa thiết kế, vừa thi công.

Cũng tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung đã trao đổi trực tiếp với các doanh nghiệp và nhà đầu tư nhằm tháo gỡ những khó khăn, chủ động thúc đẩy và khuyến khích đầu tư vào một số vùng, dự án trọng điểm. Chủ tịch giao Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ dự án của Công ty Nước sạch Hà Nam, phối hợp với huyện Phú Xuyên, Sở Tài Chính để giúp Công ty này cấp nước sạch cho nhân dân trên địa bàn huyện trong thời gian sớm nhất. Công ty Nước sạch số 2 cần kiểm điểm trách nhiệm trong việc sử dụng vật liệu không đúng tiêu chuẩn; khẩn trương phối hợp với huyện Sóc Sơn để cung cấp nước sạch cho nhân dân khu vực xã Nam Sơn. Bên cạnh việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy nước sạch mới, các nhà máy nước đã đi vào hoạt động cần nghiên cứu nâng công suất, mở rộng mạng cấp nước, phối hợp để phủ kín địa bàn. Các Công ty cấp nước cần nghiên cứu, tiến tới sớm đưa vào sử dụng đồng hồ nước thông minh để nâng cao năng lực quản lý…

Theo báo cáo của Sở Xây dựng, thời gian qua, để giải quyết nước sạch khu vực nông thôn, UBND TP Hà Nội đã kêu gọi xã hội hóa lĩnh vực đầu tư cấp nước sạch khu vực nông thôn, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoàn thiện đề án giao công trình cấp nước nông thôn cho doanh nghiệp hoặc hợp tác xã tiếp nhận quản lý. Thành phố đã chấp thuận chủ trương cho 10 nhà đầu tư thực hiện 20 dự án cấp nước cho khu vực nông thôn với phạm vi cấp nước cho 75 xã, hơn 180 nghìn hộ với gần 730 nghìn người dân. Các dự án hoàn thành sẽ nâng tỷ lệ người dân khu vực nông thôn được cấp nước sạch lên khoảng 54%. Từ tháng 6/2016 đến nay, một số dự án cấp nước nông thôn đã được các nhà đầu tư triển khai thực hiện việc cấp nước cho khoảng gần 15 nghìn hộ với khoảng 60 nghìn người dân được cấp nước sạch.


- Theo nguồn HNP-

1/7, áp dụng khung giá tính thuế tài nguyên mới



Thông tư số 44/2017/TT-BTC quy định về khung giá tính thuế tài nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý, hóa giống nhau vừa được Bộ Tài chính ban hành sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2017.

Theo Thông tư này, các nhóm, loại tài nguyên không quy định khung giá tính thuế tài nguyên gồm: Nước thiên nhiên dùng sản xuất thủy điện; dầu thô, khí thiên nhiên, khí than.

Theo đó, giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng sản xuất thủy điện thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4, còn giá tính thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 4 Nghị định số 50/2010/NĐ-CP.

Khung giá tính thuế tài nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý, hóa giống nhau, gồm: Khung giá tính thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại (Phụ lục I); khoáng sản không kim loại; sản phẩm của rừng tự nhiên (Phụ lục III); hải sản tự nhiên; nước thiên nhiên và yến sào thiên nhiên.

Căn cứ Khung giá tính thuế tài nguyên ban hành tại Thông tư này, UBND cấp tỉnh ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên áp dụng tại địa phương.

Đối với loại tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến thành sản phẩm công nghiệp mới bán ra, giá tính thuế tài nguyên khai thác là giá đã trừ đi chi phí chế biến theo quy định tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư số 152/2015/TT-BTC nhưng phải đảm bảo nằm trong Khung giá tính thuế tài nguyên.

Trường hợp điều chỉnh, bổ sung khung giá tính thuế tài nguyên khi giá tài nguyên phổ biến trên thị trường biến động lớn, tức là tăng từ 20% trở lên so với mức giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với mức giá tối thiểu của Khung giá tính thuế tài nguyên do Bộ Tài chính ban hành hoặc phát sinh loại tài nguyên mới chưa được quy định trong Khung giá tính thuế tài nguyên.

Đối với trường hợp giá tài nguyên biến động lớn phải điều chỉnh ngoài Khung giá tính thuế tài nguyên, trong thời gian 30 ngày, Sở Tài chính phối hợp với Cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo UBND cấp tỉnh có văn bản trao đổi với Bộ Tài chính trước khi quyết định ban hành văn bản điều chỉnh Bảng giá tính thuế tài nguyên.

Đối với loại tài nguyên mới chưa được quy định trong Khung giá tính thuế tài nguyên, Sở Tài chính, Cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường căn cứ giá giao dịch phổ biến trên thị trường hoặc giá bán tài nguyên đó trên thị trường trình UBND cấp tỉnh ban hành văn bản quy định bổ sung Bảng giá tính thuế đối với loại tài nguyên này.

Các trường hợp cần điều chỉnh, bổ sung khung giá tính thuế tài nguyên quy định tại Khoản 1 Điều này cần gửi về Bộ Tài chính để làm căn cứ điều chỉnh Khung giá tính thuế tài nguyên cho phù hợp, chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày có phát sinh các trường hợp điều chỉnh, bổ sung Bảng giá tính thuế tài nguyên.

Đối với loại tài nguyên trong Bảng giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh ban hành và đang có hiệu lực thi hành, phù hợp với Khung giá tính thuế tài nguyên ban hành theo Thông tư này thì tiếp tục áp dụng theo Bảng giá do UBND cấp tỉnh đã ban hành.

Đối với loại tài nguyên trong Bảng giá tính thuế tài nguyên do UBND cấp tỉnh ban hành không còn phù hợp với Khung giá tính thuế tài nguyên ban hành kèm theo Thông tư này thì UBND cấp tỉnh ban hành văn bản điều chỉnh cho phù hợp, chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.

moitrupng.co.vn (TH/ TBTC

Đề xuất tăng chi ngân sách cho bảo vệ môi trường từ 2018


Bộ Tài Nguyên & Môi trường (TN&MT) mới đây đã có báo cáo gửi Chính phủ về công tác bảo vệ môi trường năm 2016 trên cả nước. Dựa trên tình hình thực tế, Bộ TN&MT đề xuất tăng chi ngân sách cho bảo vệ môi trường lên 1,5%/năm kể từ 2018.

Theo Bộ TN&MT, năm 2016, môi trường không khí tại nhiều đô thị lớn vẫn tiếp tục bị ô nhiễm bụi. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, chất lượng không khí tại nhiều đô thị cũng đang có xu hướng được cải thiện hơn.

Kết quả thống kê cho thấy, năm 2016, tại Hà Nội, tỷ lệ ngày trong năm có nồng độ bụi vượt QCVN 05:2013/BTNMT khoảng 23%, giảm gần 7% so với năm 2015, một số “điểm đen” về ô nhiễm không khí ở một số đô thị cũng đã được cải thiện.

Chất lượng môi trường đất hiện nay còn tương đối tốt. Tuy nhiên, tình trạng thoái hóa đất, khô hạn và ô nhiễm cục bộ đã diễn ra tại một số vùng chuyên canh nông nghiệp do sử dụng không hợp lý phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Ô nhiễm do chất thải từ các hoạt động công nghiệp, xây dựng, sinh hoạt tại các vùng ven đô thị lớn, đặc biệt là ô nhiễm do kim loại nặng trong đất tại các khu vực này có xu hướng gia tăng.

Tính đến năm 2016, Việt Nam vẫn được ghi nhận là một trong những nước có đa dạng sinh học cao với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gen phong phú và đặc hữu.

Nước ta có khoảng 7.500 chủng vi sinh vật, 20.000 loài thực vật bậc cao trên cạn và dưới nước, trong đó gần 11.000 loài động vật trên cạn và 10.500 loài động vật dưới nước. Tuy nhiên, đa dạng sinh học nước ta đang tiếp tục bị suy giảm nhanh, tốc độ tuyệt chủng của các loài ngày một tăng. Các hệ sinh thái biển, rạn san hô đang tiếp tục đối mặt với nguy cơ suy thoái.
Một trong những nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm môi trường, theo Bộ TN&MT, đến từ phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Ngoài ra, các nguồn thải lớn, dự án tác động xấu tới môi trường cũng là các nguyên nhân lớn khác.

Trong năm 2016, cả nước có khoảng 50 vụ việc gây ô nhiễm môi trường, gây bức xúc, nổi cộm được dư luận quan tâm. Trong đó, đặc biệt là sự cố môi trường biển tại 04 tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế làm hải sản chết hàng loạt do Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra.

Trước tình hình đó, Bộ TN&MT đã rút kinh nghiệm và đưa ra các đề xuất, kiến nghị trong giai đoạn tới. Đầu tiên, Bộ TN&MT đề xuất tăng cường các hoạt động giám sát chuyên đề của Quốc hội về bảo vệ môi trường, trong đó tập trung vào các vấn đề nóng, nổi cộm, như các dự án lớn có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.

Ngoài ra, Bộ cũng đề xuất giám sát các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề chưa có hạ tầng bảo vệ môi trường; công tác thu gom, xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại và nước thải sinh hoạt, y tế và công nghiệp; công tác quản lý, xử lý các khu vực môi trường bị ô nhiễm do hóa chất thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu.

Cuối cùng, Bộ TN&MT kiến nghị Chính phủ xây dựng và thực hiện một số cơ chế đột phá để tăng cường nguồn lực đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Cụ thể, xem xét, tăng nguồn chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp bảo vệ môi trường lên 1,5%/năm trong tổng chi ngân sách nhà nước từ năm 2018.

Ngoài ra, Bộ cũng kiến nghị Việt Nam có cơ chế sàng lọc, hạn chế các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực sản xuất có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao; cơ chế kiểm soát đặc biệt đối với các dự án, cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường cao.

moitruong.com.vn (TH/ KTĐT