Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế xanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế xanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Từ góc độ phát triển ngành điện than Ấn Độ, Việt Nam cần cân nhắc.



     Công nhân tại một nhà máy điện chạy bằng than đang được xây dựng tại Kudgi, Ấn Độ vào năm        2015


Cách đây vài năm, thế giới quan sát một cách thận trọng khi Ấn Độ lao vào việc xây dựng các nhà máy điện đốt than, tăng gấp đôi công suất và tuyên bố rằng cần nhiều hơn nữa. Sản lượng than, sẽ tăng gấp ba lần lên 1,5 tỷ tấn vào năm 2020.

Các kế hoạch của Ấn Độ đã bị các nhà phê bình Mỹ đề cập đến Hiệp định khí hậu ở Paris là bằng chứng cho thấy sự vô vọng của các nước tiên tiến đang cố gắng hạn chế sản lượng các-bon. Nhưng bây giờ, ngay cả khi Tổng thống Trump rút quân khỏi Hiệp ước, Ấn Độ đã trải qua một sự thay đổi đáng kinh ngạc, phần lớn là do sự tăng trưởng mạnh mẽ chi phí năng lượng mặt trời.

Các chuyên gia nói rằng Ấn Độ không chỉ cần ít nhất là một thập kỷ mới có các nhà máy đốt than mới vì các nhà máy hiện tại đang hoạt động dưới 60% công suất nhưng sau đó nó có thể dựa vào các nguồn năng lượng tái tạo cho tất cả các nguồn năng lượng bổ sung nhu cầu.

Thay vì xây dựng các nhà máy đốt than, hiện nay nó đang bị hủy bỏ rất nhiều trong giai đoạn lập kế hoạch ban đầu. Và tháng trước, chính phủ đã hạ thấp mục tiêu sản xuất hàng năm của than từ 660 triệu tấn xuống mức 600 triệu tấn

Sự đảo ngược mạnh mẽ, chào mừng các nhà lãnh đạo thế giới đang cố tránh những ảnh hưởng tiềm ẩn của sự nóng lên toàn cầu là phản ánh của cả hai nền kinh tế đang thay đổi của năng lượng tái tạo và ý thức môi trường ngày càng tăng ở một quốc gia có ô nhiễm không khí tồi tệ nhất trên thế giới.

Điều Ấn Độ có vấn đề, bởi vì nó là nước phát thải khí nhà kính lớn thứ ba thế giới, sau Trung Quốc và Hoa Kỳ. Và nhu cầu về năng lượng của nó thật đáng kinh ngạc - gần một phần tư dân số của họ không có điện và nhiều người khác chỉ nhận nó một cách gián đoạn.


                   Smog enveloping buildings on the outskirts of New Delhi in November 2014.

Với nhu cầu về năng lượng của Ấn Độ dự kiến ​​sẽ phát triển mạnh mẽ khi nền kinh tế tiếp tục phát triển, việc sử dụng năng lượng sẽ ảnh hưởng lớn đến cơ hội của thế giới trong việc chứa các khí nhà kính mà các nhà khoa học tin rằng đang thúc đẩy sự nóng lên toàn cầu.

Sự chú ý nhiều vào thời điểm ký kết Hiệp định Paris đã tập trung vào vai trò Tổng thống Barack Obama đã thúc đẩy Thủ tướng Ấn Độ, Narendra Modi, ký kết. Làm như vậy, ông Modi cam kết Ấn Độ đạt được 40% công suất điện từ các nguồn nhiên liệu phi hoá thạch vào năm 2030.

Ít hiểu hơn là ông Modi đã cam kết lâu dài với Ấn Độ theo hướng kinh tế xanh. Theo Harsh Pant, một thành viên của Tổ chức nghiên cứu Observer, một tổ chức nghiên cứu ở New Delhi, điều đó đã được củng cố trong những năm gần đây bằng cách phát triển bằng chứng cho thấy một con đường xanh hơn mang ý nghĩa chính trị và kinh tế.

"Khu vực bầu cử của Modi là tầng lớp trung lưu, và tầng lớp trung lưu ở các thành phố Ấn Độ đang làm nghẹt thở ô nhiễm", ông Pant nói. "Modi biết biến đổi khí hậu là chính trị tốt. Thay đổi khí hậu có ý nghĩa đối với Modi bởi vì ông tin rằng đó là một nền kinh tế và chính trị tốt ".

Hai yếu tố kinh tế chính nằm ở trung tâm của việc Ấn Độ di chuyển khỏi than đá. Thứ nhất là tốc độ tăng trưởng của nước này, trong khi tốc độ tăng trưởng của hầu hết các nền kinh tế lớn, đã giảm xuống mức 6,1% trong quý gần đây nhất, giảm từ 7% trong quý trước. Và phần lớn sự tăng trưởng đó đã xuất hiện trong các ngành công nghiệp dịch vụ hơn là trong sản xuất khát năng lượng.

Quan trọng không kém là sự sụt giảm đáng kể giá các nguồn năng lượng tái tạo. Nhiều chuyên gia năng lượng cho biết các nguồn năng lượng tái tạo đang sẵn sàng để trở thành một loại than thay thế than rẻ hơn trong thập kỷ tới.

"Xe lửa đã rời ga. Theo ông Ajay Mathur, Tổng giám đốc của Viện Năng lượng Năng lượng, một trung tâm chính sách ở New Delhi, liên quan chặt chẽ với chính phủ, ông Trump đã quá muộn "để làm chậm quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. "Đến thời điểm các nhà máy đốt than chạy hết công suất vì nhu cầu ngày càng tăng, giá năng lượng tái tạo sẽ thấp hơn giá than."

Theo Viện Năng lượng Kinh tế và Phân tích Tài chính, Ấn Độ đã huỷ bỏ 13,7 gigawatts của các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Chính phủ Ấn Độ thừa nhận rằng thêm 8,6 gigawatts công suất phát điện bằng than được xây dựng với chi phí 9 tỷ đô la sẽ không còn khả thi về mặt tài chính vì sự cạnh tranh từ các nguồn tái tạo.

Đây là hy vọng cho thế giới, ông Tongia nói, bởi vì cách duy nhất để thế giới không phát triển quá nóng là đối với "các nước đang phát triển, đặc biệt là Ấn Độ "

- Cao Thinh - 

Công nghệ biến trấu thành nguyên liệu quý


Ở Việt Nam bình quân mỗi năm sản xuất ra hơn 40 triệu tấn thóc, riêng năm 2015 sản lượng lúa gạo của nước ta đạt tới 44,7 triệu tấn.

Khối lượng trấu chiếm 20% trong thành phần hạt thóc, vậy mỗi năm có xấp xỉ 9 triệu tấn trấu thải ra môi trường, đây là số lượng chất thải khổng lồ mà nếu không xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường và là một sự lãng phí lớn.

Trong thực tế trấu là một chất thải khó tái chế, nó cũng là vật liệu khó cháy, khó mục nát trong môi trường. Theo truyền thống ở nước ta trấu thường được dùng làm nhiên liệu đốt trực tiếp, vài năm gần đây trấu được chế biến thành củi, trấu cũng được chế tạo thành các tấm ép phục vụ xây dựng và trang trí nội thất. Nhưng số lượng trấu dùng cho các mục đích nêu trên chỉ chiếm một tỷ lệ quá nhỏ so với khối lượng trấu lớn mỗi năm thải ra môi trường.

Đã có những dự án dùng trấu để đốt vận hành nhà máy nhiệt điện nhưng tính ra thấy giá trị kinh tế thấp nên không khả thi. Trấu cũng được tính toán ứng dụng cho các lò sinh khối nhưng ở địa bàn đồng bằng sông Cửu Long là vùng công nghiệp chưa phát triển thì sinh khối không tiêu thụ là bao nhiêu nên xem ra cũng kém hiệu quả. Mặt khác chất thải của các quá trình vận hành ở trên là tro trấu thì không dùng vào việc gì cho hết, cũng không thể tinh chế oxit silic từ tro này được vì hàm lượng oxit silic (SiO2) rất thấp, do đó đầu tư công nghệ không hiệu quả.

Theo kết quả phân tích của các nhà khoa học thì trong trấu có chứa một tỷ lệ SiO2 chiếm khoảng 15 - 17%. Nếu đốt trấu trong điều kiện tự nhiên như các mục đích nêu ở trên thì tro trấu thu được cũng có hàm lượng SiO2 không cao, nếu tinh chế oxit silic từ các loại tro này thu được kết quả rất thấp, không có hiệu quả kinh tế.

Vì thế các nhà khoa học thế giới đã sáng chế ra phương pháp nhiệt phân đốt trấu trong các lò đặc biệt ở những nhiệt độ đặc biệt để thu được tro trấu có hàm lượng SiO2 cao lên đến trên 90% phương pháp này vô cùng hiệu quả cho công nghệ điều chế SiO2 để ứng dụng cho nhiều mục đích.

Trong bài viết này sẽ trình bày về giải pháp ứng dụng công nghệ nhiệt phân để sản xuất SiO2 hiệu quả cao. Oxit silic thu được từ trấu thường có dạng vô định hình (hình thức dạng bột), có kích thước dạng hạt nhỏ cỡ vài micron(µm) có độ rỗng giữa các hạt kích thước 0,0045µm vì vậy diện tích riêng tiếp xúc bề mặt rất lớn đạt tới 321 m2/1g. Chính bởi có những đặc tính nêu trên mà oxit silic có hoạt tính rất cao.
Oxit silic - nhiều ứng dụng và có giá trị xuất khẩu

Oxit silic có công thức hóa học SiO2 là hợp chất của silic và oxy, trên trái đất này nó tồn tại ở trong cát thạch anh (cát trắng) và trong vỏ trấu, rơm, rạ và một số thực vật khác. Oxit silic được ứng dụng rộng rãi vào rất nhiều lĩnh vực khác nhau:

- Để tinh chế nguyên tố silic dùng chế tạo pin mặt trời và chất bán dẫn.

- Chế tạo thủy tinh lỏng, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực chế tạo vật liệu.

- Phụ gia cho sản xuất lốp ô tô chất lượng cao.

- Sơn chịu nhiệt, chịu môi trường hóa chất.

- Gạch chịu nhiệt, cách âm, cách nhiệt.

- Làm xà phòng, kem đánh răng.

- Làm phụ gia cho công nghiệp thực phẩm.

- Dùng trong công nghiệp dược phẩm.

- Dùng trong công nghiệp chế tạo xi măng và bê tông.

Đặc biệt để chế tạo phân bón hữu cơ silic giúp tăng năng suất lúa và các cây trồng khác lên từ 15 - 30%, giảm thiểu các chất N, P, K và giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu…

Do có nhiều ứng dụng rộng rãi như vậy nên nhu cầu về oxit silic ngày càng tăng trên thị trường thế giới hiện nay thế giới mỗi năm có nhu cầu 1,5 triệu tấn, qua mỗi năm lại tăng thêm. Riêng nước Nga cần 15.000 tấn/năm, đến năm 2020 nhu cầu đến 26.000 tấn/năm. Đặc biệt xu hướng phát triển năng lượng sạch của thế giới càng ngày càng tăng cao thì nhu cầu về năng lượng mặt trời lại càng trở nên bức xúc từ đó càng tăng thêm nhu cầu về silic.

Ví dụ: Năm 2016 nhu cầu về silic tinh chế tăng hơn năm 2010 là 100.000 tấn, đạt tới 350.000 tấn. Nhu cầu về tăng trưởng của năng lượng mặt trời sẽ còn tăng đột biến trong những năm tiếp theo. Trên thế giới rất nhiều nước không có tài nguyên về cát thạch anh và nông nghiệp lúa nước nhưng nhu cầu phát triển kinh tế, công nghiệp, khoa học công nghệ rất cao nên hầu như phải nhập khẩu 100% oxit silic. Tại Nga, riêng vùng Viễn Đông là vùng cực phía Đông - Nam của nước này là vùng đất gần với Việt Nam nhất của nước Nga, mỗi năm nhập khẩu 2.500 tấn SiO2, đồng thời nhu cầu qua mỗi năm lại tăng thêm.

Nước Nga gần như 90% oxit silic phải nhập khẩu từ nước ngoài, mấy năm trước phải nhập từ Brazil, vài năm gần đây nhập từ Ấn Độ và Trung Quốc.
Tóm tắt về giải pháp công nghệ

Như đã nói ở phần trên, mục tiêu của công nghệ hướng tới là công nghệ nhiệt phân trấu đặc biệt tạo ra 2 loại sản phẩm:

Sản phẩm 1: Oxit silic hàm lượng cao từ tro trấu nhiệt phân.

Sản phẩm 2: Nhiệt lượng.

Giải pháp công nghệ độc đáo này do các nhà khoa học Nga sáng chế ra, khác với công nghệ đốt trấu truyền thống là ở công nghệ đốt truyền thống thì tro trấu là chất thải gần như bỏ đi, chỉ sử dụng một phần không đáng kể làm vật liệu xây dựng và một số việc khác. Còn trong công nghệ mới này tro trấu được sử dụng là nguyên liệu chính cho quá trình sản xuất. Phần khí thải được thu hồi thành nhiệt lượng, vì vậy không thải ra môi trường những chất thải độc hại. Oxit silic thu được có độ tinh khiết đạt tới trên 90%, có thể đạt tới 99,99%.

Thông thường đốt trấu trong điều kiện không khí tự nhiên chỉ thu được tro trấu có hàm lượng oxit silic thấp. Trong công nghệ này, trấu được đốt trong lò nhiệt phân có điều khiển kiểm soát nhiệt độ tăng dần theo lập trình của nhà sản xuất. Trấu nguyên liệu đầu vào có độ ẩm trung bình 10%, có thể cao hơn nhưng không quá 25%. Không cần phải sấy trấu trước khi cho vào lò. Lò có hệ thống điều khiển tự động do người điều khiển máy lập trình trước. Ví dụ có thể điều khiển để lò có tốc độ tăng nhiệt 5oC/phút, 10oC/phút, 15oC/phút…

Cũng có chế độ hãm ở một nhiệt độ nào đó 30 phút hay 60 phút… Hệ thống lò có thể điều tiết tự động van đóng mở để cho không khí vào nhiều hay ít tùy thuộc vào chế độ theo yêu cầu của công nghệ mà người điều khiển mong muốn. Hệ thống lò tiên tiến này rất tiết kiệm nhiên liệu, an toàn, có hiệu suất cao.

Công nghệ xử lý, tái chế trấu thành nguyên liệu quý SiO2 và nhiệt lượng hữu ích đã được nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành dây chuyền sản xuất ổn định có hiệu quả cao tại Nga. Dây chuyền công nghệ này không chỉ xử lý tái chế trấu thành oxit silic mà còn có khả năng chế biến rơm, rạ cũng là chất thải của đồng ruộng thành oxit silic tương tự.

Việc triển khai công nghệ này tại Việt Nam sẽ là một đóng góp giá trị cho chủ trương của Chính phủ phát triển đồng bộ công nghiệp trong nông nghiệp nhằm phát huy tiềm năng của nông nghiệp, góp phần hiện đại hóa ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, giải quyết an sinh xã hội.

"Chúng tôi, những cán bộ nghiên cứu về vật liệu và năng lượng tái tạo tại Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam rất mong muốn các nhà quản lý, các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng công nghệ mới này triển khai tại các vùng vựa lúa đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Chúng tôi tin rằng sự thành công của áp dụng công nghệ sẽ góp phần tăng thêm chuỗi giá trị gia tăng của hạt gạo Việt Nam đủ sức cạnh tranh mạnh trên thị trường quốc tế" - TS Đỗ Đình Khang.

Kinh tế xanh giúp giảm đói nghèo kinh niên



Báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) khẳng định mô hình kinh tế xanh mới sẽ giúp giảm bớt tình trạng đói nghèo kinh niên ở nhiều nước, đồng thời hạn chế tối đa hành động xâm hại của con người đối với hệ sinh thái tự nhiên.

Xây dựng nền kinh tế xanh ở Việt nam

UNEP đã phát động chiến lược kinh tế mới nhằm đảm bảo tương lai ổn định cho Trái Đất và kêu gọi đầu tư 2% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu, tương đương 1.300 tỷ USD mỗi năm, cho 10 lĩnh vực then chốt.
Trong một báo cáo, UNEP nhấn mạnh mỗi năm thế giới cần đầu tư 350 tỷ USD cho ngành năng lượng, 200 tỷ USD cho giao thông, hơn 100 tỷ cho quản lý nước và rác thải và 134 tỷ USD lần lượt cho xây dựng và du lịch.

UNEP ước tính đầu tư 1,25% GDP toàn cầu vào hiệu quả năng lượng và năng lượng tái sinh sẽ làm giảm 9% nhu cầu năng lượng thiết yếu toàn cầu vào năm 2020 và 40% vào năm 2050.

Trong khi đó, số việc làm ở khu vực năng lượng sẽ tăng thêm 20% và chi phí nhiên liệu cũng như nguồn vốn để phát điện sẽ tiết kiệm được trung bình 760 tỷ USD trong thời gian từ năm 2010-2050. Cùng với đó khí thải gây hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu sẽ giảm xuống dưới mức an toàn 450 ppm vào năm 2050 trong nền kinh tế xanh.

30 tỷ USD thực hiện kinh tế xanh tại Việt Nam

Dưới sự hỗ trợ đỡ của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã triển khai kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh Việt Nam nhằm đóng góp vào sự phát triển bển vững của thế giới.

Tổng kinh phí để thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh ước khoảng 30 tỷ USD, hiện đã huy động được 7,52 triệu USD, trong đó Chính phủ Bỉ đóng góp 6,83 triệu USD, Chính phủ Việt Nam đóng góp 680.000 USD lập quỹ hỗ trợ tăng trưởng xanh.

Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, có 17 giải pháp nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược tăng trưởng xanh và quan trọng nhất là đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng; giảm tiêu hao năng lượng trong sản xuất, vận tải, thương mại; từng bước thay đổi cơ cấu nhiên liệu trong sản xuất công nghiệp và giao thông như sử dụng nguồn năng lượng mới, sạch, tái tạo, ít phát thải khí nhà kính; giảm phát thải khí nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững bằng cách chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng; tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, trồng rừng nâng tỷ lệ che phủ của rừng lên 45% (năm 2020).

Chiến lược cũng đề cập rõ đến giải pháp hạn chế dần các ngành kinh tế làm phát sinh chất thải lớn hoặc gây ô nhiễm, suy thoái môi trường song song với phát triển các ngành “sản xuất xanh” trên cơ sở kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải hiệu quả.

Hàng trăm triệu người có thể thoát nghèo

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Sáng kiến Việc làm Xanh (GJI) dự báo tiến trình toàn cầu chuyển sang nề kinh tế xanh có thể tạo thêm tới 60 triệu việc làm mới và hàng trăm triệu người có thể thoát nghèo trong 2 thập kỷ tới.

Phó Tổng Thư ký Liên Hợp quốc và Tổng Giám đốc Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP) Achim Steiner cho rằng dự báo của ILO và GJI có thể còn bao gồm hàng triệu người nữa được thoát nghèo và chất lượng cuộc sống sẽ được cải thiện không chỉ cho các thế hệ trong tương lai mà cả cho thế hệ hiện nay.


Khánh Ly (MOITRUONG.COM.VN/TH)