Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Forest Man - Làm thế nào một người trồng một khu rừng


Jadev Payeng là một thiếu niên trẻ tuổi khi ông bắt đầu trồng cây đầu tiên và điều đặc biệt ông trồng cây trên một bãi cát cằn cỗi trong vùng Assam của Ấn Độ. Sau nhiều thập niên chăm sóc, diện tích 550 ha hiện nay là khu bảo tồn rừng nơi có động vật hoang dã đa dạng bao gồm một số loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng như hổ và tê giác.


Sự cống hiến của Payeng đối với mảnh đất này bắt đầu vào năm 1979 sau khi một trận lũ lụt đã để lại một lượng lớn rắn chết, tiếp đó là hạn hán và khô cằn khiến các loài động vật không thể tồn tại tại đây. Payeng đã khóc khi chứng kiến cảnh tượng này.

Ông đã bắt đầu trồng từ những cây con với mục đích tạo nơi trú ẩn và bóng râm cho động vật. Cuối cùng, với hàng chục năm nuôi dưỡng và trồng trọt, rừng đã phát triển thành hàng ngàn giống cây. Hiện nay, nó được gọi là rừng Molai, được đặt tên theo Payeng.

Mãi cho đến năm 2008 khi các quan chức Ấn Độ lần đầu tiên biết đến những nỗ lực của Payeng. Họ đã đặt cho ông tên là Forest Man và cuối cùng ông được công nhận vì những hành động của ông và được trao tặng Padma Shri vào năm 2015 - giải thưởng dân sự cao thứ tư ở Ấn Độ.

Payang và gia đình vẫn sống và chăm sóc rừng cho tới tận hôm nay, ông nói: " Chặt tôi trước khi bạn muốn chặt cây của tôi ". Dưới đây là đoạn video ngắn nói về câu chuyện của ông để hiểu thêm làm thế nào một người trồng một khu rừng 



Đây là những gì bạn có thể làm cho rừng ? Liệu nó có đủ để tạo cho bạn nguồn cảm hứng?

Cộng đồng Green Trees đang đứng trước tình trạng khai thác rừng không bền vững - một trong những mối đe dọa lớn nhất cho tương lai của rừng và khí hậu của chúng ta.

Đã đến lúc phải hành động để bảo vệ rừng khỏi nạn phá rừng và khai thác rừng không bền vững. Đứng lên cho rừng và khí hậu của chúng ta: kêu gọi sự phá rừng bằng không vào năm 2020.

Green Trees ( Sola )

Formosa lặp lại trò lừa đảo trên biển Việt

Để xử lý lượng xỉ khổng lồ lên đến hàng chục triệu m3 trong quá trình luyện thép, Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Formosa) đã hoàn tất được việc xây một hệ thống kè lấn biển để chôn lượng xỉ thải lên tới hàng chục triệu tấn.


Tại Đài Loan, sau khi nhà máy Formosa bắt đầu chính thức đi vào hoạt động từ năm 1998. Chỉ sau 5 năm hoạt động đã gây ra hàng loạt các thảm họa môi trường biển, hủy hoại toàn bộ hệ sinh thái và các loài động vật. Thêm 5 năm sau đó, thì xuất hiện hàng loạt những ngôi làng ung thư thuộc các xã như Đài Tây, Đông Thế, Luân Bội, Tứ Hồ, Bao Trung và Mạch Liêu.

Hàng trăm, hàng nghìn cuộc biểu tình tại Đài Loan diễn ra trong suốt 20 năm để phản đối nhà máy Formosa đang hàng giờ hủy diệt mầm sống tại đó. Với tham vọng không dừng Formosa đã luôn tìm mọi cách thức để lừa đảo và mị dân. Trong khuôn viên nhà máy, họ xây dựng khu trưng bầy những hình ảnh và phòng thí nghiệm chứng mình nước xả thải của họ đạt tiêu chuẩn và không hại tới các loài sinh vật biển. 



Còn ngoài biển họ xây những kè bằng bê tông cao, họ tuyên truyền về việc phát huy tính hiệu quả chắn các độc tố từ rác thải của nhà máy với người dân địa phương tại đây. 


                                           
                    Hình ảnh: Chụp những bờ kè tại khu vực nhà máy Formosa Đài Loan ( Sola )

Khi phỏng vấn ông Liou, một người dân sống tại đó. Ông Liou nói: " Không một ai trong chúng tôi tin vào những gì Formosa tuyên bố, và càng không tin vào những cái kè chắn đó. Chưa nhắc tới các yếu tố thời tiết như mưa bão, chỉ cần nói tới các dòng chảy dưới biển, làm sao Formosa dám khẳng định nó an toàn tuyệt đối". Và thực tế đã chứng minh, sau hơn 20 năm hoạt động với kè và lời hứa hẹn thì biển Đài Loan giờ chỉ là bùn độc và bốc mùi hôi thối.

Chính Phủ Đài Loan dưới sức ép của các tổ chức dân sự cũng như người dân đã siết chặt tất cả các dự án có tác động xấu tới môi trường. Và thế là Formosa không thể nào tác động tới Chính Phủ Đài Loan để có cấp phép mở rộng nhà máy. Formosa bắt đầu chuyển hướng sang các nước Đông Nam Á, nơi có những quốc gia nghèo, đang phát triển với tiêu chuẩn cấp phéo thấp, mong muốn hút nguồn vốn đầu tư. Và Việt Nam là một trong những quốc gia được nhắm tới.

Tại Việt Nam, một đất nước với hệ thống pháp luật lỏng lẻo, đội ngũ quan chức tham nhũng lớn, đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của Formosa cùng bản hợp đồng thuê đất lên tới 70 năm. Sau hơn một năm từ khi Formosa gây ra thảm họa trên biển miền Trung, kinh tế Việt Nam sụt giảm mạnh vì đánh mất đi nguồn thu từ biển. Đi kèm theo đó là nạn thất nghiệp, hàng loạt doanh nghiệp lao đao trong vô vọng. Nhưng mọi chuyện dường như chưa chấm dứt, người dân Việt Nam một lần nữa phải bàng hoàng trước thông tin để xử lí lượng xỉ khổng lồ lên đến hàng chục triệu m3 trong quá trình luyện thép, Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Cty Formosa) đã hoàn tất được việc xây một hệ thống kè lấn biển để chôn lượng xỉ thải lên tới hàng chục triệu tấn.

Một lần nữa, những lời hứa hẹn tại Đài Loan được lặp lại ở Việt Nam khi xây dựng những cái kè: "Bãi chứa xỉ này áp dụng theo công nghệ đã được sử dụng thành công trên thế giới, đảm bảo không gây ô nhiễm đối với môi trường nước biển. Trong bãi xỉ lấn biển được xây dựng đảm bảo không làm ô nhiễm nước biển. Bãi xỉ lấn biển này có đê bê tông và lưới lọc nước xung quanh, nước mưa không thể trần qua bãi xỉ vì đê có độ cao hơn 6m”.( Nguồn từ Tiền Phong)

Ông Hoàng Văn Thức- Phó tổng cục trưởng tổng cục Môi Trường- Bộ TN&MT nói: "Ông mong muốn xã hội có cái nhìn rộng lượng hơn với Formosa và tin tưởng vào các cơ quan chức năng có trách nhiệm trong vấn đề môi trường Formosa. Trong trường hợp Formosa có biểu hiện gian dối trong đổ xỉ thải, trong sản xuất công nghiệp có bộ quy chuẩn, để cho ra một tấn sản phẩm thì sẽ có bao nhiêu rác thải, trong đó có con số rác thải độc hại và rác thải thông thường. Định kỳ sẽ có kiểm tra, thanh tra, nếu có gian dối sẽ bị phát hiện xử lý ngay." ( Nguồn từ Tiền Phong)


Nhưng thiết nghĩ, việc ông Thức kêu gọi người dân tin tưởng Formosa, phải chăng ông đã quá lạc quan và đặt nhiều niềm tin cho Formosa. Chúng tôi chỉ muốn nói, hãy nhìn sang Đài Loan, hãy nhìn vào những gì mà người dân họ đã và đang phải gánh chịu từ hậu quả trong quá khứ. Họ đã quá thấm với những chiêu trò lừa đảo và sự dối trá trong tuyên truyền của Nhà máy Formosa. Đây là lúc các Bộ và Chính phủ Việt Nam cần tỉnh táo và không đưa ra thêm những quyết định mang tính chất hủy diệt môi trường, sự tồn của con người cũng sẽ không còn.


Green Trees ( Sola )

Formosa và Nhiệt điện Vĩnh Tân coi biển Việt Nam là bãi rác thải

Biển có phải bãi rác công cộng không mà Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phép Nhiệt điện Vĩnh Tân đổ 1,5 triệu m3 bùn thải xuống biển Tuy Phong, gần khu bảo tồn sinh vật biển Hòn Cau.

                                                    Nguồn internet mang tính chất minh họa

Biển là một phần không thể tách rời của cuộc sống nhân loại, trên thế giới các tổ chức NGOs đang phải đua nhau đưa ra các giải pháp cố gắng tìm cách làm sạch biển hay duy trì bảo tồn những loài động vật biển quý hiếm. Còn tại Việt Nam, người dân cả nước chưa kịp hoàng hồn với nhát chém mang tên Formosa gây ra cho bốn tỉnh miền Trung thì nay thêm thông tin rằng 1,5 triệu m3 bùn được Bộ Tài Nguyên & Môi Trường ký phép cho đổ thẳng xuống biển Tuy Phong. 

Biển còn là nguồn sống của hàng chục triệu ngư dân, gắn liền đời sống của cả đất nước. Chưa kể đến chiến lược kinh tế biển của Đảng cộng sản Việt Nam cũng xác định tới 2020, kinh tế biển sẽ đóng góp hơn 50% GDP cả nước. Chiều dài bờ biển Việt Nam là 3.260 km, xếp thứ 32 trên tổng số 156 nước có bờ biển. Độ dài bờ biển chỉ dạng trung bình, bù lại Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, thừa sức sánh vai cùng thế giới. Từ khi đổi mới, du lịch Việt Nam phát triển và đi lên từ biển. Cho đến hôm nay, du lịch Việt Nam chủ đạo vẫn là biển.

Vì nhiều lý do, nhất là vì nghèo đói, biển Việt Nam bị bạc đãi. Bao đời nay, biển là bãi chứa rác thải của tàu thuyền và cư dân ven bờ, âm thầm mà nhức nhối, từ năm này qua năm khác. Gần đây, biển đau đớn và có nhiều người đã gọi là “ biển chết” vì chất thải công nghiệp thi nhau đổ xuống biển. Không chỉ rác thải thông thường dễ phân hủy mà toàn hóa chất độc hại, hủy diệt môi trường. Biển chết, các sinh vật biển, nguồn sống của con người bị diệt chủng kéo theo nhiều hệ lụy khôn lường.

Tháng 9/2016, tôi có dịp tới Taiwan du lịch và sự tò mò tiếp cận nhà máy Formosa đã thôi thúc tôi đi tìm hiểu về nó. Oái ăm thay, “Formosa” vốn có nghĩa là “xinh đẹp” lại trở thành biểu tượng của sự chết chóc. Formosa ở Đài Loan gây ô nhiễm tại Đài Trung, trong suốt hơn 20 năm tồn tại nó đã làm biến mất hoàn toàn dòng sông Trạc Thủy vì hút nước làm mát nhà máy. Nơi xưa kia người dân bắt cá và mưu sinh giờ chỉ là cánh đồng cỏ dại mọc chạy dài. Những cái chết vì mắc các căn bệnh ung, nhiều làng tại Đài Trung giờ bị bỏ hoang.

Sau khi chính phủ mới được thành lập tại Taiwan bàn tay thao túng của Formosa đã không thể che hết bầu trời, Formosa buộc phải bồi thường mỗi tháng 650 USD/người cho hàng chục ngàn dân vùng ô nhiễm, vẫn không từ bỏ tham vọng mở rộng đế chế luyện thép vì những món lợi kếch xù. Không thể bành trướng xuống Cao Hùng như dự kiến vì người Đài Loan kịch liệt phản đối, Formosa thò vòi bạch tuộc vào Hà Tĩnh, Việt Nam.

Biển Hà Tĩnh và vùng phụ cận sau hơn một năm, theo nhận định của nhiều chuyên gia, thảm họa môi trường này sẽ khiến toàn bộ hệ sinh thái khu vực biển miền Trung bị hủy hoại nghiêm trọng và mất vài chục cho đến hàng trăm năm mới có thể khôi phục được. Theo một phóng sự ngắn của báo Dân Việt và Sài Gòn Giải Phóng, rặng san hô trên vùng biển của tỉnh Quảng Bình đã bị hủy hoại hoàn toàn. Chưa có một đảm bảo về tính khoa học nào rằng biển đã an toàn trừ những phát ngôn không có cơ sở của một số lãnh đạo như ông Trương Hòa Bình, Mai Tiến Dũng.

Khách tới những địa điểm du lịch đa phần là khách địa phương, khách bình dân; còn khách du lịch đúng nghĩa, khách Tây vẫn biệt tăm. Họ nghi ngờ những người đã cho phép Formosa xả thải vì cho là không độc hại hoặc biết là độc hại nhưng vẫn nhắm mắt đồng ý vì tư lợi. Tại sao không mời cơ quan độc lập về môi trường quốc tế công bố để đảm bảo khách quan và chính xác? Tại sao những tổ chức về môi trường lớn như Green Peace khi muốn hoạt động tại Việt Nam lại không được chào đón hay tạo mọi điều kiện cấp phép hoạt động.

Những người yêu biển chưa nguôi nỗi đau mang tên Formosa nay lại được bồi thêm nhát chém mang tên Vĩnh Tân ở Tuy Phong, Bình Thuận. Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phép đổ 1,5 triệu mét khối bùn thải xuống biển Tuy Phong, gần khu bảo tồn sinh vật biển Hòn Cau. Lại còn chống chế và ngụy biện bằng mỹ từ “vật chất” chứ không phải là bùn thải. Nếu dùng được, không ai ngu gì đổ bỏ. Số bùn thải này, nếu vô hại, có thể làm thêm được mấy đảo nổi ở Trường Sa. Hòn Cau, còn gọi là Cù Lao Câu, cách bờ 10 km, là một trong 16 khu bảo tồn sinh vật biển của Việt Nam. Đây là đảo không có người ở và có thể bắt cá bằng tay với dụng cụ thô sơ, một trong những vùng biển đẹp nhất của Việt Nam.

Nên nhớ, mới Vĩnh Tân 1 và chỉ giai đoạn đầu đã đổ 1,5 triệu mét khối bùn thải xuống biển. Không chỉ hủy diệt môi trường mà còn thay đổi hệ sinh thái và hải lộ vận chuyển xuyên Việt. Vĩnh Tân có 4 nhà máy 1, 2, 3, 4 thì 3/4 nhà máy do Trung Quốc làm tổng thầu và chủ đầu tư 1 nhà máy. Trước đây, dù chưa vận hành, Vĩnh Tân đã bị ngư dân Tuy Phong nhiều lần phản đối vì bụi xỉ làm ô nhiễm môi trường sống. Số bùn thải này đổ lên bờ đã khủng khiếp và không thể xử lý, nỡ nào đổ xuống biển.. Biển đang giãy chết còn lòng dân đang dậy sóng. Thay cho nhiệt điện than, sao không làm điện gió hoặc điện mặt trời vốn là thế mạnh của vùng đất thiếu nước ngọt, thừa nắng và dư gió này?

Có cảm giác Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan gác cửa môi trường sống của Việt Nam đang làm ngược với chức năng của mình. Các mức kỷ luật của Bộ trong vụ Formosa vẫn chưa đủ sức cảnh báo và răn đe những hành vi tương tự. Nếu mọi người dân trên cả nước cùng đồng lòng,cùng lên tiếng đề nghị Thủ tướng cho dừng ngay các dự án nhiệt điện than Vĩnh Tân và hành vi đổ rác thải độc hại ra biển thì chắc chắn chúng ta sẽ cứu biển thành công. Các nhà khoa học chân chính và những ai yêu biển hãy cùng nhau góp tiếng nói để chặn đứng những dự án hủy diệt môi trường. Thiệt hại về tiền bạc còn có thể bù đắp nhưng về môi trường sống thì không thể. Muộn vẫn còn hơn không. Hãy làm hết khả năng của lương tâm con người. 

Green Trees (Sola)

Thảm họa Formosa, một năm nhìn lại - Phần 2


APP photo

Phần 2: SAU THẢM HỌA FORMOSA LÀ THẢM HỌA BỒI THƯỜNG

1. Tiến trình bồi thường chậm chạp, gặp nhiều sự phản đối của người dân


Ngày 30/06, Chính phủ tuyên bố nhận 500 triệu đô la tiền bồi thường từ Formosa và chi trả cho người dân trong tháng 8. Đến 1.9, Chính phủ lại trả lời sẽ hoàn thành bồi thường trong tháng 10. Đến hôm nay, lời hứa chuyển sang tháng 6/2017. Ngày 11/10/2016, Bộ Tài chính cho biết đã chuyển 3000 tỷ cho các địa phương đền bù cho dân. Ngày 8/2/2017, Bộ Tài chính chuyển tiếp 1680 tỷ đồng cho đợt 2. Tổng cộng đã chi 4680 tỷ đồng trong số 11 500 tỷ nhận từ Formosa.

Tuy thảm họa diễn ra từ tháng 4, Chính phủ nhận tiền từ cuối tháng 6 nhưng mãi đến 29/09/2016 mới ban hành định mức bồi thường cho người dân. Tuy nhiên, lại bỏ sót nhiều đối tượng bị thiệt hại thực sự. Đến ngày 9/3/2017, chỉ có duy nhất một đối tượng được thêm vào trong Quyết định bổ sung số 309 của Thủ tướng.

Trên các phương tiện truyền thông chính thống đưa tin rằng người dân phấn khởi và đồng tình với quyết định bồi thường của Chính phủ. Nhưng trên thực tế, gần như toàn bộ các địa phương đều có việc khiếu nại, phản đối vì họ cho rằng quá trình bồi thường quá chậm chạp và không công bằng. Một số ít các bài báo online được đưa lên một thời gian ngắn sau đó bị xóa tại trang chủ. Có một chỉ đạo ngầm về việc hạn chế đưa những tin tiêu cực về quá trình này.

Tại Hà Tĩnh, chính quyền thông báo đã chuyển hơn 1000 tỷ đồng tiền bồi thường đến dân nhưng ở các cơ quan hành chính cấp xã, huyện và tỉnh ngày nào cũng có người dân đến đòi tiền. Nhà riêng của Đặng Quốc Khánh, Chủ tịch UBND tỉnh và Đặng Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch thường xuyên bị người dân khiếu nại đến. Tình trạng khiếu nại còn lên tận Trung ương khi ông Đặng Ngọc Sơn phải ra Hà Nội không ít lần để đàm phán đề nghị. Nhiều người dân ở một số nơi còn liên tục tổ chức các cuộc biểu tình liên quan đến vấn đề bồi thường. Đặc biệt, nhiều cuộc biểu tình ở các nơi như Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Quảng Trạch, Ba Đồn (Quảng Bình),…đã nhiều lần làm tắc nghẽn giao thông trên các tuyến Quốc lộ nhiều giờ. Ngày 3/4/2017, người dân còn biểu tình chiếm luôn cả trụ sở UBND huyện Lộc Hà khi các quan chức đứng đầu huyện không xuất hiện để trả lời yêu cầu của họ. Các tỉnh khác cũng diễn ra tình trạng tương tự. Đó là một sự hỗn loạn thực sự trên một địa bàn trải dài vài trăm cây số ven biển.

2. Nguyên nhân của tình trạng người dân phản ứng với quá trình bồi thường

Đầu tiên, là sự chậm trễ, thiếu sót trong các quyết định ban hành từ Trung ương. Nhận tiền từ cuối tháng 6 nhưng đến 29/09, Thủ tướng mới ban hành quyết định 1880 định mức bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, nhiều đối tượng thiệt hại thực sự và giá trị lớn đã bị bỏ qua; ví như như các nhà hàng hải sản, khách sạn, khu du lịch. 3/7 đối tượng bị thiệt hại trong quyết định 1880 này không có số tiền cụ thể. Ngày 9/3/2017, PTT Trương Hòa Bình ký quyết định số 309 bổ sung duy nhất một đối tượng là lao động ven biển không thường xuyên, với định mức 1.405 ngàn đồng/tháng và nhà hàng, khách sạn chỉ được bồi thường lao động, những thiệt hại khác không được bồi thường. Đồng thời, các quyết định này nêu rõ chỉ những xã, phường VEN BIỂN mới được bồi thường thiệt hại; những xã phường lân cận dù mức độ thiệt hại như thế nào cũng bị bỏ qua. Chủ nhà hàng Hải Đường, Chương ở bên cầu Hộ Độ ( Thạch Hạ, TP Hà Tĩnh) cho biết rằng trong năm 2015 họ đóng thuế gần 500 triệu đồng, nhưng hiện nay đang lỗ nặng mà không được bồi thường gì. Cách tính toán số tiền bồi thường trong nhiều trường hợp rối rắm, phức tạp và vượt quá khả năng của cán bộ địa phương.

Thứ hai, là số tiền bồi thường không đủ so với thiệt hại hiện tại của người dân và chỉ bồi thường trong vòng 6 tháng, từ 4-9/2016, những thiệt hại thời gian tiếp không được quan tâm đến. Những người kinh doanh, buôn bán thủy hải sản cho rằng thu nhập thực tế của họ nếu không có thảm họa lớn hơn nhiều lần so với con số 2 910 ngàn/tháng. Tương tự, những chủ tàu cá, ngư dân khẳng định trước đây thu nhập của họ đủ nuôi sống gia đình, cao hơn số tiền 3 690 ngàn/tháng như mức bồi thường. Hiện tại, nhiều ngư dân đã bỏ nghề để đi làm các công việc khác vì giá hải sản hiện tại quá thấp, không thể tiếp tục theo nghề. Nhiều ngành nghề khác như nuôi trồng hay dịch vụ đều phải tiếp tục tạm dừng hoặc ế ẩm vô thời hạn.

Thứ ba, ở cấp địa phương, trình độ của cán bộ hạn chế và thói quen làm việc quan liêu, thiếu minh bạch. Theo hướng dẫn kê khai thiệt hại từ bộ nông nghiệp, mỗi thôn xóm đều có một ban thẩm định, đánh giá công khai. Tuy nhiên, với trình độ hạn chế và kiểu cửa quyền, văn hóa quen thân khiến nhiều người dân bức xúc. Cụ thể là có một Thôn trưởng tại Thạch Kim, Lộc Hà, Hà Tĩnh đã bị ném mìn vào nhà vì vấn đề này. Khi hồ sơ kê khai được cấp xã, huyện thì nhiều trường hợp bị đưa ra khỏi danh sách bồi thường mà không được thông báo lý do. Người dân ở xã Kỳ Phương và Kỳ Nam, Kỳ Anh nhiều lần chặn đường Quốc lộ 1A để phản đối vì khi niêm yết danh sách bồi thường, họ bất ngờ bị gạch tên và thôn trưởng hay ban thẩm định ở thôn, xóm đều không được hỏi ý kiến hay biết lý do là gì. Bức xúc của người dân càng tăng cao hơn khi khả năng đối thoại của địa phương thực sự yếu kém. Người dân lên cơ quan hành chính chất vấn thì các quan chức chịu trách nhiệm tìm cách né tránh và ít khi giải đáp một cách thỏa đáng những yêu cầu từ phía người dân.

Thứ tư, từ phía người dân, vẫn tồn tại nhiều trường hợp kê khai không đúng với thực tế và sự hiểu biết còn hạn chế. Một số báo đã đưa tin có sự tiếp tay từ cán bộ thôn, xóm nên có một số trường hợp người buôn bán dưa cà ngoài chợ vẫn được bồi thường, trong khi lao động liên quan đến biển lại không. Việc này những mâu thuẫn và kiện cáo diễn ra phức tạp. Nhiều người dân đi đòi quyền lợi mà không hề tiếp cận những văn bản liên quan, dẫn đến việc những người tiếp nhận không hiểu rõ. Trên thực tế, nhiều cán bộ cấp xã khi người dân đưa ra Quyết định 1880 để đòi hỏi thì họ mới công nhận là không hề biết văn bản này(!). Chuyện này không hiểu nguyên nhân từ việc yếu kém, lơ là của cấp địa phương hay là lí do khac, nhưng hiện tại Quyết đinh bổ sung 309, một quyết định quan trọng liên quan đến việc bồi thường lại không hề tồn tại trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ trong khi các văn bản khác đều có.

3. Giải pháp cho vấn đề bồi thường

Phải khẳng định rằng 500 triệu đô la là quá ít so với thiệt hại thực tế hiện tại và tương lai. Chính phủ phải thừa nhận đây là một sai lầm vì đã tự động nhận một số tiền mà không có một đánh giá định lượng cũng như tham vấn của người dân và chuyên gia. Một trong những nguyên nhân chính của quá trình bồi thường chậm chạp, hỗn loạn như hiện nay cũng bắt nguồn từ chính quyền. Tuy nhiên, năng lực của cán bộ hành chính địa phương không thể thay đổi ngay lập tức. Việc đòi thêm tiền bồi thường từ Formosa cũng là bất khả thi (!).

Với thói quen làm việc của một chính quyền toàn trị là luôn muốn tự mình giải quyết mọi vấn đề, ví dụ như việc nhận 500 triệu đô tiền bồi thường mà người dân không hề được tham vấn. Chính quyền phải nhìn nhận thực sự lại vấn đề và kêu gọi sự tham gia của xã hội trong việc chi trả tiền bồi thường từ Formosa. Đầu tiên, là phải có một cơ chế giám sát minh bạch, độc lập trong việc kê khai thiệt hại. Ngoài những tổ chức thuộc đảng như các hội đoàn địa phương, sự tham gia của xã hội dân sự trong quá trình giám sát, hỗ trợ tiến trình bồi thường. Hiện tại, sự tham gia này không không được khuyến khích mà còn bị hạn chế, cấm đoán. Đơn cử như ít văn phòng luật sư đóng trên địa bàn Hà Tĩnh nào dám nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường của dân vì mối lo bị chính quyền hỏi thăm, phiền nhiễu. Các tổ chức xã hội dân sự có giấy phép cũng bỏ quên dải đất miền Trung hỗn loạn này. Các tổ chức xã hội dân sự không giấy phép thì bị chính quyền tuyên truyền xấu và ngăn cấm triệt để.

Ngoài ra, chính quyền cũng phải xem xét ban hành các quyết định chi trả đầy đủ, hướng dẫn và phân công nhân sự trực tiếp tham gia vấn đề bồi thường này. Các hướng dẫn thiếu sót, mập mờ mà với trình độ hạn chế của địa phương quá khả năng của họ. Vấn đề bồi thường hiện nay như một cái lò xo nén những bức xúc, phẫn nộ của người dân cùng với những khó khăn về đời sống gần như quá mức chịu đựng của họ.

Chính quyền đã sai lầm quá nhiều trong vụ Formosa, từ việc cấp phép, giám sát cho đến đàm phán nhận tiền bồi thường. Cơ hội để chứng tỏ giá trị của mình với nhân dân qua việc bồi thường một cách công bằng có thể là cơ hội cuối cùng của họ. Một khi mất hoàn toàn niềm tin của người dân và trở thành một lực lượng tệ hại trong mắt họ, thì hệ lụy không hề nhỏ. Cái lò xo dồn nén bao nhiêu đau khổ, nước mắt và chịu đựng của triệu người dân miền Trung vốn chịu nhiều mất mát, thiên tai và nghèo khó một khi đã bung ra thì khó mà cưỡng lại được.

FB: Trịnh Anh Tuấn

Thảm họa Formosa, một năm nhìn lại - Phần 1

Thảm họa Formosa, một năm nhìn lại - Phần 1


Ảnh Vietbest
Phần 1: THẢM HỌA VẪN TIẾP DIỄN

1. Môi trường sau thảm họa

Theo nhận định của nhiều chuyên gia, thảm họa môi sinh trường này sẽ khiến toàn bộ hệ sinh thái khu vực biển miền Trung bị hủy hoại nghiêm trọng và mất vài chục cho đến hàng trăm năm mới có thể khôi phục được. Theo một phóng sự ngắn của báo Dân Việt và Sài Gòn Giải Phóng, rặng san hô trên vùng biển của tỉnh Quảng Bình đã bị hủy hoại hoàn toàn. Chưa có một đảm bảo về tính khoa học nào rằng biển đã an toàn trừ những phát ngôn không có cơ sở của một số lãnh đạo như ông Trương Hòa Bình, Mai Tiến Dũng. Liên tiếp nhiều lần xảy ra những vệt nước đáng nghi màu đỏ xuất hiện quanh khu vực Vũng Áng gần Formosa. Trong một nghiên cứu độc lập, nhóm Green Trees, một nhóm bảo vệ môi trường đã đưa ra kết quả xét nghiệm nước biển lấy từ biển Kỳ Hà, Kỳ Anh vào tháng 2/2017 cho thấy mức độ nhiễm độc là rất nguy hiểm. Gần đây nhất, sáng 4/4/2017, một vệt nước đỏ đáng nghi xuất hiện ngay cầu cảng Vũng Áng ngay trong lúc đoàn kiểm tra môi trường của trung ương đang kiểm tra tại Formosa.

Ngay khi nhận tiền bồi thường từ Formosa, Chính phủ đã tuyên bố rằng sẽ dùng số tiền đó vào việc làm sạch biển. Tuy nhiên đã một năm trôi qua, chưa thấy thông tin nào xác nhận rằng Chính phủ đã tiến hành việc khôi phục lại môi trường biển.

Việc xử lý số lượng cá chết tại bờ biển cũng như xử lý hàng ngàn tấn hải sản nhiễm độc trong các kho đông lạnh cũng hết sức yếu kém. Hàng trăm tấn cá chết dạt bờ chỉ được đem chôn theo phương pháp thủ công. Hải sản nhiễm độc phần lớn không được tiêu hủy theo đúng phương pháp khoa học. Theo một bài báo trên Dân trí và Đại Đoàn Kết thì hàng trăm tấn sứa trữ tại các kho đông lạnh tại xã Thạch Kim và Thạch Bằng hiện đã hôi thối, bốc mùi nhưng chính quyền vẫn không hướng dẫn và hỗ trợ người dân tiêu hủy an toàn. Số sứa hư hại này vẫn đang bốc mùi hôi thối, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần người dân địa phương.

Những người ngư dân cũng khẳng định rằng số lượng tôm cá trên vùng biển họ đánh bắt đã giảm đáng kể so với năm trước. Không có một báo cáo nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này, nhưng với số lượng cá chết năm ngoái không chỉ dạt vào bờ mà còn chết dưới đáy biển, thì sự giảm sút là không thể không xảy ra.

Đã một năm trôi qua, những mối nguy hại về môi trường không những không được giải quyết mà mối lo ngại vẫn tiếp tục khi Formosa vẫn hoạt động. Theo dự kiến, khi đưa vào sản xuất, lượng chất thải đổ ra môi trường sẽ lớn hơn nhiều lần so với đợt chạy thử nghiệm gây ô nhiễm năm 2016.

2. Kinh tế

Theo báo cáo kinh tế - xã hội cuối năm vào ngày 28/12/2016 của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, thảm họa Formosa đã gây thiệt hại 0.3% GDP. Với 200 tỷ đô la Mỹ GDP trong năm 2016, ước tính thiệt hại chung cho nền kinh tế quốc dân năm ngoái là 600 triệu đô la Mỹ, nhiều hơn số tiền Chính phủ nhận bồi thường từ Formosa. Trước đó, vào tháng 7/2016, Chính phủ đã công bố thiệt hại sơ bộ về thảm họa này với hơn 200 000 lao động và 17 600 tàu cá bị ảnh hưởng; 9 triệu tôm giống bị chết; sản lượng khai thác du lịch chưa tới 50%, nhiều nơi chỉ còn 10-20%,…

Các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế và cả Nghệ An đều có những báo cáo thiệt hại riêng với những con số rất lớn. Trong báo cáo ở phiên họp Hội đồng nhân dân, Đặng Quốc Khánh, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh thông báo rằng GDP của tăng trưởng ở mức -17.06%. Đối với một tỉnh mà thu ngân sách năm 2015 là hơn 10 ngàn tỷ thì đây là con số thảm họa. Tốc độ tăng trưởng của Quảng Bình chỉ đạt 4,2% so với mục tiêu 8%. Đối với Quảng Trị, báo cáo đưa ra là thiệt hại mỗi tháng 98 tỷ đồng. Thừa Thiên – Huế báo cáo thiệt hại là 988,5 tỷ đồng. Nghệ An, một tỉnh không được đền bù theo Quyết định của Chính phủ cũng đề nghị hỗ trợ 415 tỷ đồng.

Hiện tại, với sự lo lắng về vệ sinh an toàn thực phẩm, giá thủy hải sản so với năm trước chỉ còn ½ làm cho lợi nhuận từ việc đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản vô cùng hạn chế. Các dịch vụ du lịch, thương mại biển vẫn trong tình trạng hết sức bết bát. Các ngành nghề khác liên quan đến biển cũng tiếp tục bị ảnh hưởng theo. Theo thống kê sơ bộ, số lượng người thất nghiệp là 40 000 người, trong đó Hà Tĩnh là 24 500 người. Chính quyền dự định đưa số người này đi xuất khẩu lao động. Tuy nhiên, việc xuất khẩu lao động đang gặp khó khăn vì nhiều thị trường xuất khẩu lao động như Hàn Quốc, Đài Loan hạn chế vì số lượng lao động xuất khẩu trốn ở lại với tỷ lệ cao. Vì vậy, người dân tìm cách qua Lào và Thái Lan lao động chui. Báo chí nhà nước đưa tin rằng đầu năm 2017, số lượng người dân 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đổ xô đi làm hộ chiếu, với số lượng hơn 500 người mỗi ngày mỗi tỉnh.

Ảnh hưởng về kinh tế của thảm họa Formosa không chỉ diễn ra trong năm 2016 mà chắc chắn còn ảnh hưởng không nhỏ đối với những năm tiếp theo. Báo cáo kinh tế- xã hội của các tỉnh miền Trung và cả nước quý 1/2017 so với cùng kì năm ngoái đều sụt giảm lớn.

3. Chính trị

Thảm họa Formosa gây ra do sự quản lý, cấp phép và điều hành của Trung ương, địa phương đã được nhận định rõ ràng. Tuy nhiên, việc thông tin thiếu minh bạch, lập lờ cùng với việc xử lý cá nhân sai phạm chậm trễ, có dấu hiệu bao che đã khiến niềm tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trở nên cạn kiệt.

Thảm họa diễn ra từ đầu tháng 4/2016 với nhiều thông tin được người dân và báo chí đưa ra. Ngày 12/04, ông Đặng Ngọc Sơn trả lời báo chí rằng ăn cá an toàn trong khi cá vẫn chết hàng loạt. Ngày 27/4/2016, ông Võ Tuấn Nhân, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên- Môi trường trả lời nguyên nhân cá chết là do thủy triều đỏ. Ngày 28/4, Chu Xuân Phàm, Phó Giám đốc đối ngoại của Formosa Hà Tĩnh trả lời Lan Anh, phóng viên VTC14 rằng : “Chọn thép hay chọn cá?” Hai sự việc này đã gây ra sự phẫn nộ công chúng. Hàng loạt các cuộc biểu tình đã diễn ra tại Hà Nội, Sài Gòn, Nghệ An,…đã diễn ra. Tệ hại hơn, những cuộc biểu tình này chịu sự đàn áp quyết liệt tại Hà Nội và Sài Gòn làm sự dồn nén càng tăng cao. Thay vì dồn mục tiêu vào Formosa, những người biểu tình dồn sự phản ứng vào chính quyền khi họ cho rằng chính quyền đang thiếu minh bạch trong việc xử lý thảm họa và bao che cho Formosa.

Mãi đến 3 tháng sau, ngày 30/06/2016, Chính phủ mới họp báo công bố thủ phạm chính là Formosa Hà Tĩnh đã xả thải gây ô nhiễm.

Đồng thời tuyên bố đứng ra nhận 500 triệu đô la Mỹ tiền bồi thường từ Formosa. Tuyên bố này làm công luận thêm một lần dậy sóng vì họ cho rằng việc giải quyết thảm họa này tốn ít nhất vài trăm tỷ đô và số tiền 500 triệu đô la là quá ít. Việc phản ứng này hoàn toàn có cơ sở khi báo cáo cuối năm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rằng thảm họa đã làm mất đi 0.3% GPD. Với khoảng 200 tỷ đô la GDP năm 2016, thì số thiệt hại riêng trong năm là 600 triệu đô la, hơn số tiền Chính phủ nhận từ Formosa. Trong khi đó, chưa tính đến số tiền bồi thường cho người dân, chi phí hành chính để phục vụ quá trình bồi thường, chi phí làm sạch biển cũng như những thiệt hại còn tiếp diễn cho những năm sau đó. Số tiền 500 triệu đô la mà Chính phủ nhận từ Formosa trở thành một chủ đề công kích và đàm tiếu từ người dân khi Chính phủ không hề tính đến thiệt hại cũng như tham khảo ý kiến người dân và chuyên gia. Người dân đã đặt nghi ngại về khả năng lãnh đạo, điều hành của nhà nước khi nhận một số tiền quá ít cho một vụ vi phạm pháp luật nghiêm trọng mà thủ phạm gần như chỉ đưa một số tiền ít ỏi và phủi tay khỏi mọi trách nhiệm.

Sau khi nhận tiền từ Formosa, Chính phủ tuyên bố sẽ tiến hành bồi thường xong cho người dân trong tháng 8/2016. Tuy vậy, lời hứa chuyển sang tháng 10, rồi tháng 12 và bây giờ tiếp tục hứa đến 6/2017. Quá trình bồi thường hết sức chậm chạp cũng như người dân nhiều nơi cho rằng việc bồi thường không đảm bảo công bằng đã khiến tình hình chính trị tại các địa phương trở nên hỗn loạn. Hàng loạt các cuộc biểu tình liên tiếp diễn ra liên tục từ tháng 10 cho đến tận hôm nay 4/2017. Người dân liên tục biểu tình yêu cầu bồi thường nhanh chóng và thỏa đáng tại các địa phương như tại Quảng Trạch ( Quảng Bình), Kỳ Lợi, Kỳ Hà, Kỳ Phương, Kỳ Nam ( TX Kỳ Anh, Hà Tĩnh) đã làm giao thông nhiều lần bị đình trệ trong nhiều giờ. Các cơ quan hành chính cấp xã, huyện và tỉnh gần như ngày nào cũng có người dân tập trung lên đòi tiền bồi thường. Tình hình nghiêm trọng đến mức ông Đặng Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh phải ra văn bản yêu cầu và quy trách nhiệm cho các huyện, xã không được để người dân kéo lên UBND tỉnh đòi tiền. Tuy vậy, tình hình khiếu nại bồi thường vẫn không hề giảm sút dù rằng trên phương tiện truyền thông Trung ương và địa phương cho rằng người dân gần như đồng tình với việc bồi thường. Ngày 3/4/2017, hàng ngàn người dân tại 2 xã Thạch Bằng và Thạch Kim (huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh) đã chiếm lấy UBND huyện Lộc Hà để yêu cầu bồi thường. Cùng ngày hôm đó, người dân tại Kỳ Phương, Kỳ Nam ( TX Kỳ Anh) biểu tình và làm tắc nghẽn giao thông trên Quốc lộ 1A hơn 6 giờ đồng hồ tại khu vực Đèo Con, TX Kỳ Anh. Với tình hình này, tình trạng phản đối, khiếu nại việc bồi thường sẽ vẫn tiếp diễn và bức xúc của người dân càng ngày càng lớn hơn vì khả năng xử lý hành chính, đối thoại của địa phương với người dân trong việc bồi thường thực sự có vấn đề nghiêm trọng.

Trong khi đó, tại Nghệ An, một tỉnh không nằm trong danh sách bồi thường của Chính phủ, thì yêu cầu hỗ trợ từ cấp tỉnh lên Trung ương không được chấp thuận. Ngư dân bị thiệt hại không hề nhận được bồi thường. Vì vậy, họ tiến hành thủ tục khởi kiện dân sự Formosa Hà Tĩnh ra Tòa án nhân dân TX Kỳ Anh, nơi Formosa đặt trụ sở. Tuy vậy, chính quyền tìm cách không thụ lý vụ kiện này. 506 lá đơn của người dân xã An Hòa( Quỳnh Lưu) đã bị Tòa trả lại với lý do không hề chính đáng. Hơn 1000 người dân khác tại 3 xã Quỳnh Ngọc, Quỳnh Thọ và Sơn Hải ( Quỳnh Lưu) khi trên đường di chuyển vào Kỳ Anh để nộp đơn kiện thì bị ngăn chặn và đàn áp bằng bạo lực tại Diễn Châu.

Thảm họa Formosa gây ra thiệt hại lớn về kinh tế, ảnh hưởng môi trường hiện tại và tương lai; cùng với đó là cách xử lý thiếu minh bạch, yếu kém và thiếu sự tôn trọng người dân; cùng với mối nghi ngờ về sự bao che đã khiến cho tình hình chính trị tại các tỉnh bị ảnh hưởng trở nên rất mất ổn định. Chính phủ cũng không hề công khai cụ thể 53 lỗi của Formosa là gì khiến cho sự nghi ngờ luôn tồn tại. Chưa khi nào khả năng điều hành, quản lý của chính quyền bị người dân đánh giá tệ hại và niềm tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam đi xuống trầm trọng như hiện nay. Chỉ dấu cho sự thay đổi tích cực không hề tồn tại khi chính quyền vẫn không nhận ra sai lầm cũng như thay đổi một cách triệt để thói quen điều hành đất nước như hiện nay.

5.4.2017

FB Trịnh Anh Tuấn

Các nguồn số liệu lấy từ các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội các địa phương và trung ương.
Một số nguồn lấy từ báo chí nhà nước.

Thảm họa Formosa, một năm nhìn lại - Phần 2

3/4 Dân số thế giới có thể hứng chịu cái nắng tử thần vào năm 2100


Hàng tỷ người trên thế giới sẽ phải đối mặt với các đợt nắng nóng chết người vào cuối thế kỷ 21 nếu khí nhà kính tiếp tục tăng.

Hơn 1.900 địa điểm trên khắp thế giới có người chết vì thời tiết nắng nóng kể từ năm 1980, theo kết quả nghiên cứu của Camilo Mora, giáo sư tại Đại học Hawaii, Manoa, Mỹ, đăng trên tạp chí Nature Climate Change hôm 19/6.

Đợt nắng nóng năm 2010 cướp đi sinh mạng của 10.800 người ở Moscow, Nga, năm 2003 cũng có khoảng 4.900 người chết ở Paris, Pháp cũng do thời tiết quá nóng, theo Independent.

Nhóm nghiên cứu ước tính 1/3 dân số thế giới hứng chịu từ 20 ngày nắng nóng chết người trở lên vào năm 2000. Đến cuối thế kỷ 21, con số này sẽ tăng lên đến 74% nếu lượng khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính tiếp tục duy trì ở mức cao. Ngay cả khi mục tiêu giảm khí thải nhà kính được thực hiện tốt, chúng ta vẫn phải chứng kiến hơn 47% dân số bị ảnh hưởng bởi các đợt nắng nóng chết người năm 2100.

Khí hậu trên Trái Đất thay đổi nhanh đến nỗi con người không thể tiến hóa kịp để chịu đựng nhiệt độ cao. Hiện tượng nóng lên toàn cầu đang không ngừng tăng lên, hoạt động của con người làm biến đổi khí hậu nhiều gấp 170 lần so với các nguyên nhân tự nhiên khác.

"Chúng ta đang thiếu lựa chọn cho tương lai. Đối với những đợt nắng nóng, lựa chọn của chúng ta hiện nay đang nằm giữa mức xấu và tồi tệ. Các mô hình cho thấy điều này sẽ tiếp tục diễn ra và ngày càng tồi tệ hơn nếu lượng khí thải không giảm mạnh", giáo sư Mora nói.

Nhiệt độ trung bình của cơ thể người khoảng 37 độ C. Khi nắng nóng, cơ thể tự làm mát bằng cách đổ mồ hôi. Tuy nhiên, nếu nắng nóng kết hợp với độ ẩm cao, mồ hôi không thể bay hơi vì không khí bão hòa hơi nước, khiến nhiệt độ cơ thể tăng lên đến mức đe dọa tính mạng.

"Hậu quả của việc tiếp xúc với các điều kiện khí hậu gây chết người sẽ ngày càng trầm trọng hơn do dân số già đi. Người già là đối tượng rất dễ bị tổn thương do nắng nóng", Mora viết.

“We will become prisoners in our homes,” Mora viết. ( "Chúng tôi sẽ trở thành tù nhân trong nhà của chúng tôi")


- Green Trees dịch từ The Washington Post -

Côn trùng và sự phát triển của rêu đe dọa Nam Cực



Sự ấm lên của lục địa này khiến cho châu lục lạnh giá đang bị đe dọa. Các khối băng tuyết tại Nam Cực đang dần chuyển thành màu xanh lá cây do sự phát triển của rêu và tảo. Nhưng một mối nguy hại mới với Nam Cực đã được các nhà khoa học cảnh báo đó chính là ruồi và những loại côn trùng khác.

Những loại sinh vật xâm thực như côn trùng và thực vật lại càng được phát tán mạnh hơn. Côn trùng và thực vật đến với Nam Cực ở dạng ấu trùng dần thích nghi và phát triển hơn khi nhiệt độ tại châu lục này đã tăng hơn 3 độ C trong một thập kỷ qua.

Các sông băng ngày càng thu hẹp diện tích để lộ nhiều vùng đất trống, nhanh chóng bị rêu phát triển lấp chỗ. Theo các nhà khoa học, những "cánh đồng rêu" này là môi trường thích hợp cho những kẻ xâm thực như ruồi trú ẩn và phát triển.

Quá trình xâm thực của các loài côn trùng và thực vật mới tại Nam Cực đang được các nhà khoa học theo dõi sát do vùng đất này được xem là châu lục dễ tổn thương nhất từ tình trạng nóng lêncủa toàn cầu.

"Ruồi là một ví dụ sinh động về những vấn đề mà Nam Cực phải đối phó với những sinh vật xâm thực. Chúng xuất phát từ các con tàu du lịch, phát triển mạnh trong khoang bếp của tàu và sau đó trú ẩn trong các trại thám hiểm Nam Cực. Bây giờ chúng sẽ thoát ra ngoài môi trường do nhiệt độ tại Nam Cực đang nóng lên, điều này làm chúng tôi lo lắng. Những loại côn trùng như ruồi mang theo các loại mầm bệnh có sức tàn phá đối với các loài sinh vật bản địa", ông Dominic Hodgson nhà khoa học thuộc đội Khảo sát Nam Cực Anh cho biết.

Tại Nam Cực có một số loài côn trùng bản địa. Cùng với rêu bản địa những loài côn trùng này đang có nguy cơ biến mất vì 3 nguồn đe dọa chính: các chuyến công tác của các nhà khoa học, sự gia tăng của các đoàn khách du lịch và cuối cùng là sự nóng lên toàn cầu.

Trong năm 2016 có khoảng 38.000 khách du lịch đến Nam Cực. Năm nay số lượng khách sẽ tăng lên thành 43.000 người. Dù ông Hodgson cho biết là những khách du lịch đến Nam Cực đều có ý thức giữ gìn thiên nhiên rất tốt. Nhưng với số lượng khách tăng chóng mặt như hiện nay thì nguy cơ phát tán các loài xâm thực là có thật.

Theo nhà nghiên cứu Anh Current Biology các loài thực vật tại Nam Cực sẽ phát triển bùng nổ trong những năm tới khi nhiệt độ của lục địa này không ngừng gia tăng. Một nhóm nghiên cứu của trường Đại học Exeter gần đây đã công bố kết luận rằng số lượng rêu phủ trên bề mặt Nam Cực hiện nay đã tăng 4 - 5 lần so với thời 1950.

"Sự nhạy cảm của việc phát triển các hòn đảo rêu trong quá khứ gia tăng nhiệt độ cho thấy hệ sinh thái sẽ thay đổi nhanh chóng khi nhiệt độ tiếp tục tăng trong tương lai, dẫn đến những sự thay đổi lớn trong sinh học và cảnh quan của Nam Cực. Nói tóm lại, chúng ta có thể sẽ thấy cây xanh tại Nam Cực, điều đã xảy ra tại Bắc Cực trong thời gian qua", Dan Charman người đứng đầu nhóm nghiên cứu của Đại học Exeter nói.

"Côn trùng và các thực vật Nam Cực đã tồn tại ở đó hàng ngàn năm trước. Chúng ta phải hành động ngay từ bây giờ nếu chúng ta muốn cứu vãn khu vực môi trường nguyên sơ cuối cùng này", ông Hodgson nói. 

- Green Trees dịch từ Science World Report -

Bình Định: Nguời dân cương quyết ngăn khai thác titan vì lo ô nhiễm nguồn nước.

Những ngày qua, nhiều người dân ở hai xã Mỹ An, Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) liên tục phản ứng, không cho Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt khai thác titan trên địa bàn vì lo ngại ô nhiễm nguồn nước.


    Khu vực Công ty CP khoáng sản Biotan khai thác titan tại xã Mỹ An (huyện Phù Mỹ) trước đây -  Ảnh: THÁI THỊNH

Ông Đặng Ngọc Thái, trưởng thôn Xuân Phương (xã Mỹ An), cho biết trước đây thôn này có rừng dương (phi lao) bạt ngàn. “Từ năm 2006, khi có công ty được cho đến đây khai thác titan, họ đốn hạ nhiều hecta cây dương, xe chở titan làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Tiếp đó, mạch nước ngầm trong thôn bị cạn dần. Để có nước sinh hoạt và tưới tiêu, nhiều người dân phải bỏ tiền khoan giếng mới” - ông Thái cho hay.

Một số người dân ở thôn Xuân Bình (xã Mỹ An) cũng nghi ngờ giếng nước gia đình họ đục, có mùi hôi là do việc khai thác titan trước đây gây nên.

“Giờ mà tỉnh, huyện cho khai thác titan lại thì dân khổ sở hơn nhiều, đặc biệt là lo lắng các thế hệ tương lai ở đây không còn nước sạch mà sinh hoạt, môi trường bị ô nhiễm nặng. Chúng tôi yêu cầu không được khai thác titan ở đây nữa” - một người dân bức xúc.

Còn ông Nguyễn Văn Giáo ở xã Mỹ Thọ lo lắng: “Khi nước ngầm mất đi thì rừng phòng hộ che chắn sẽ không sống được”.

Theo tìm hiểu, từ tháng 6-2006 đến tháng 4-2013, UBND tỉnh Bình Định cấp phép cho Công ty CP khoáng sản Biotan khai thác titan trên diện tích gần 18ha tại xã Mỹ An và nhiều lần bị người dân phản ứng quyết liệt.

Tháng 4-2011, Bộ Tài nguyên và môi trường cấp phép cho Công ty khoáng sản và thương mại Bình Định (nay đổi tên thành Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt) khai thác titan tại xã Mỹ An với diện tích hơn 180ha trong thời gian 14 năm.

“Tuy nhiên, suốt sáu năm qua, công ty này chưa khai thác được vì vấp phải phản ứng gay gắt của nhân dân” - ông Hồ Mạnh Cường, phó trưởng Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Phù Mỹ, cho biết.

Ông Hồ Ngọc Chánh, chánh văn phòng, đồng thời là người phát ngôn của UBND huyện Phù Mỹ, cho biết huyện đã có báo cáo UBND tỉnh về việc người dân liên tục ngăn cản không cho khai thác titan.

Ông Chánh cung cấp cho chúng tôi bản sao văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Bình Định mới đây, trong đó có nội dung yêu cầu Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt tạm dừng khai thác titan, phối hợp với chính quyền tổ chức họp dân, thông báo cụ thể đến cho người dân biết một số nội dung liên quan đến hoạt động khai thác, cam kết các quy định về bảo vệ môi trường.

Trong khi đó, ông Đỗ Ngọc Dũng, đại diện Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt, cho biết công ty đã hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý cho việc khai thác titan ở xã Mỹ An, kể cả nộp tiền quỹ, tiền thuê đất... tuy nhiên vẫn bị dân ngăn cản khai thác.

“Việc UBND tỉnh tạm dừng khai thác không phải lỗi do doanh nghiệp mà do người dân ngăn cản. Việc dự án kéo dài nhiều năm, nay tiếp tục dừng gây thiệt hại không nhỏ nên doanh nghiệp rất mong chính quyền địa phương sớm có giải pháp giải quyết dứt điểm vụ việc” - ông Dũng nói.

Một số hình ảnh người dân tại hai xã Mỹ An, Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ) tràn ra đường phản ứng với chính quyền về việc cho Công ty CP khoáng sản Hoàng Đạt khai thác titan :





- Ảnh: Thái Thịnh
- Nguồn: Tuổi Trẻ

Nhà máy Shafdan biến nước thải thành nguồn nước phục vụ nông nghiệp tại Israel.



Nhà máy Shafdan xử lý nước thải từ Tel Aviv để biến thành nước phục vụ nông nghiệp ở miền nam Israel. Nhà máy xử lý nước thải khu vực Dan (Shafdan) nằm ở thành phố Rishon Letsion, cách Tel Aviv khoảng 10 km về phía nam, có thể xử lý khoảng 370.000 m3 nước thải mỗi ngày. Nước thải dẫn về nhà máy từ khu dân cư khoảng 2,5 triệu người ở Tel Aviv và vùng lân cận, qua hệ thống đường ống dài 110 km. 

     Là trung tâm xử lý nước thải lớn nhất Israel và hiện đại nhất Trung Đông, Shafdan sử dụng công nghệ loại bỏ nitơ và  phốt pho sinh học.

Mỗi năm nhà máy xử lý hơn 130 triệu m3 nước để cung cấp đến 75% nước dành cho nông nghiệp ở sa mạc Negev, phía nam Israel, cách nhà máy khoảng 10 km.

 Nước sau quá trình xử lý dù đạt tiêu chuẩn sạch nhưng không dùng để uống, chủ yếu dùng cho tưới tiêu.


Nhờ hệ thống này, phần lớn nước thải ở khu vực Dan không bị đổ ra biển Địa Trung Hải.

                   Ông Gal Shoham, kỹ sư của công ty Mekorot, giới thiệu hệ thống bể gạn (clarifier).

Israel hiện đứng đầu thế giới về xử lý nước thải, với tỷ lệ xử lý khoảng 80%. Nước đứng thứ hai là Tây Ban Nha với tỷ lệ 23%.

                                                       Mô hình tổng thể của nhà máy Shafdan.

Trong quá trình xử lý nước thải, hệ thống còn tạo ra khí metan, đáp ứng từ 50 đến 80% nhu cầu năng lượng cho chính nhà máy. Chất cặn sau xử lý được chuyển thành phân bón loại A.

Chi phí đầu tư xây dựng nhà máy khoảng một tỷ USD.

                                               Khách tham quan tìm hiểu thông tin ở khu giới thiệu dưới lòng đất.

Mekorot là công ty thuộc quản lý của Bộ Năng lượng và Nước, Bộ Tài chính Israel. Mekorot được xác định là công ty nước quốc gia trong Luật về nước, được đặt dưới sự giám sát của Cơ quan quản lý nước Israel.


- Green Trees dịch nguồn Reuters -

TP. HCM: Ô nhiễm nặng từ các xưởng tái chế nhôm





Nhu cầu về nhôm tăng cao khiến việc sản xuất, tái chế nhôm ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là một số cơ sở còn thiếu kinh nghiệm và ý thức bảo vệ môi trường khi sản xuất và tái chếnhôm. Nếu xử lý không tốt, việc tái chế nhôm sẽ để lại lượng bã thải rất lớn, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.

Những ngày vừa qua, người dân sống dọc đuờng E11/4 Ấp Tân Thới 3, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP. HCM liên tục phản ánh với Green Trees về tình trạng ô nhiễm của các xưởng tái chế nhôm trên khu vực này.

Ngày 24/5, phóng viên tình nguyện của Green Trees đã có mặt tại tuyến đường trên để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này. Từ đường E11/4 Ấp Tân Thới 3, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn đi vào khoảng 600m, chúng tôi gặp một đồng chí vệ binh. Được sự hướng dẫn của đồng chí, chúng tôi tìm đến xưởng sản xuất nhôm của ông Tiếp và bà Chín nằm trên đất của Sư đoàn 317 – Quân khu 7.

Dọc đường đi, chúng tôi thấy những chiếc xe tải chở hàng liên tục di chuyển ra vào. Một người dân giấu tên cho biết: “Tôi không rõ xưởng này hoạt động từ bao giờ, nhưng thời gian gần đây, các xe tải ra vào xuởng liên tục. Khói bụi và ồn ào cả ngày lẫn đêm, khiến người dân rất khó chịu”.

Tiến sâu vào xưởng sản xuất, chúng tôi cảm thấy ngạt thở vì mùi khét, mùi hăng hắc nồng nặc thải ra từ các lò đốt nhôm. Hai xưởng rộng khoảng 60 m2 này chỉ mở một cửa duy nhất khi cần ra vào. Trước cửa, các thành nhôm thành phẩm được xếp thành từng khối chờ bốc lên xe. Thấy sự xuất hiện của chúng tôi, người phụ nữ tầm hơn 40 tuổi ngồi trước cửa xưởng “cảnh giới” đứng bật dậy, bước đến hỏi chúng tôi cần gì và cho biết ở đây không được vào.

Quy trình sản xuất

Trong hai xưởng tái chế, nhôm phế liệu được chất chồng thành đống cao ngất chờ vào lò để nung chảy. Vỏ lon bia, xoong nồi cũ, dây điện, phụ tùng máy móc, vành xe hỏng, khung nhôm kính… được thu mua với giá rẻ ở khắp nơi sau đó tập kết về xưởng. Sau đó, những nguyên liệu này được nấu trong lò đốt cho tan chảy và nhôm lỏng được đổ vào khuôn thành các thanh nhôm có chiều dài khoảng 80cm, nặng từ 8 – 12kg.
Bên trong xưởng của ông Tiếp và bà Chín là hai lò đốt với công suất 12 tấn/ngày. Nhìn sang bên cạnh, chúng tôi thấy 2 người công nhân mỗi người bịt một chiếc khăn mặt kín mít chỉ hở mỗi 2 con mắt đang thay nhau dùng xẻng xúc phế liệu đổ vào lò. Theo tính toán của các chuyên gia, hàm lượng bụi và khói bên cạnh các lò đúc luôn vượt quá tiêu chuẩn cho phép tới 10-15 lần, điều này khiến tôi tự nghĩ không hiểu qua lớp khăn mặt kia hàm lượng khói bụi liệu giảm đi được mấy phần.

Bã thải trong sản xuất đi đâu?

Ông Trần Văn H (một người có kinh nghiệm nấu nhôm lâu năm) cho biết: “Cứ 6 tấn nhôm sẽ sản sinh ra khoảng 600kg xỉ”. Xỉ nhôm là một trong những chất vô cùng độc hại đối với môi trường, nếu không được xử lý đúng cách sẽ gây ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe của con người.

Điều đáng nói, xưởng tái chế nhôm của ông Tiếp và bà Chín hoạt động với công suất lớn nhưng lại không có khu xử lý xỉ nhôm. Điều này khiến chúng tôi tự đặt câu hỏi không biết lượng xỉ nhôm khổng lồ ấy được vận chuyển đi đâu và xử lý như thế nào? Liệu hai xưởng tái chế nhôm này đã đánh giá tác động môi trường trước khi hoạt động hay chưa? Và với hoạt động tái chế nhôm này, liệu ông Tiếp và bà Chín có được cấp giấy phép kinh doanh hay không?

Nguy cơ nhiễm độc từ xưởng tái chế nhôm

Quá trình tái chế nhôm sản sinh ra rất nhiều khói bụi độc hại, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể con người. Đặc biệt, những người thường xuyên tiếp xúc hoặc sinh sống gần các xưởng tái chế nhôm có nguy cơ cao bị nhiễm các bệnh liên quan đến đường hô hấp, ngoài da, đường tiêu hóa.

Theo nghiên cứu của PGS-TS Nguyễn Thị Kim Thái, Viện Khoa học và Kỹ thuật môi trường, Trường đại học Xây dựng, trong các máy biến thế, tụ điện phế thải (mà các lò tái chế nhôm thường thu mua), có một hợp chất độc hại chứa trong dầu thải là chất PCB. PCB là một hợp chất hữu cơ rất khó phân hủy. Chất độc này khi xâm nhập vào cơ thể sẽ tích lũy trong các mô mỡ, có thể gây nhiễm độc nặng ảnh hưởng đến hệ thần kinh, tuần hoàn máu… gây giảm sút trí nhớ. Nghiêm trọng hơn, chúng có thể làm biến đổi gien và có nguy cơ gây ung thư cao.

Vậy, có hay không chuyện xưởng tái chế nhôm này chỉ chú trọng vào sản xuất và lợi nhuận mà không quan tâm đầu tư cho việc xử lý chất thải, cải thiện môi trường của cơ sở sản xuất? Phải chăng sức khỏe của các chiến sĩ và người dân nơi đây đang được chính họ mang ra trao đổi với lợi nhuận? Và những xưởng tái chế này được xây dựng trên đất của Quân đội nhân dân Việt Nam là đúng hay sai? Các cơ quan chức năng sẽ giải quyết vấn đề nhức nhối này như thế nào để đảm bảo an toàn và sức khỏe cho người dân.


- Green Trees -

Hà Nội: Tới năm 2020 - 100% người dân được uống nước sạch tại vòi



Sáng 13/6, đồng chí Nguyễn Đức Chung, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP đã chủ trì buổi làm việc với các sở ngành, doanh nghiệp và nhà đầu tư bàn về thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống nước sạch đến năm 2020 trên địa bàn thành phố.

Tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung nhấn mạnh: mục tiêu của thành phố đến năm 2020 là 100% người dân Hà Nội phải được cấp nước sạch và tiêu chuẩn nước sạch được đặt ra là phải “uống được tại vòi”. Bên cạnh đó, để giữ gìn tài nguyên, các nhà máy nước phải chuyển hoàn toàn sang sử dụng nước mặt. Chủ tịch cho biết, TP coi việc đẩy nhanh cung cấp nước sạch là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Với mục tiêu này, các nhà máy nước cung cấp nước sạch khu vực nội đô phải khẩn trương nghiên cứu, bổ sung công nghệ lọc, trình phương án trong tháng 8/2017 để triển khai vào năm 2018. Các doanh nghiệp cấp nước cần rà soát hệ thống mạng cấp nước, không để thất thoát; thay đổi, điều chỉnh công nghệ để có thể sục rửa mạng cấp nước định kỳ; xây dựng đề án củng cố bộ máy, phương thức quản lý, không để thất thoát, tham nhũng…

Về nước sạch tại khu vực nông thôn, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung yêu cầu tiếp tục phát triển mạng lưới cấp nước để lấy nguồn nước sạch của các nhà máy hiện có, đi đôi với khuyến khích nhà đầu tư xây dựng nhà máy mới. Để khuyến khích các doanh nghiệp, nhà đầu tư cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, Chủ tịch cho biết, TP sẽ giúp các doanh nghiệp kết nối với các ngân hàng; dành 800 đến 1.000 tỷ đồng cho vay lãi suất thấp hoặc không lãi suất để hỗ trợ về nguồn vốn, ưu tiên các doanh nghiệp phát triển những dự án ở các huyện xa như Mỹ Đức, Mê Linh, Chương Mỹ, Thường Tín, Phú Xuyên… Ngoài ra, TP cũng sẽ tổ chức kết nối các nhà đầu tư với các doanh nghiệp cung cấp vật tư để bảo đảm đồng bộ và chất lượng. TP cam kết đẩy mạnh cải cách hành chính để hỗ trợ đầu tư trên lĩnh vực này theo hướng là giao Sở Xây dựng là đầu mối duy nhất tiếp nhận và giải quyết các hồ sơ dự án đầu tư, đồng thời, cho phép cơ chế vừa thiết kế, vừa thi công.

Cũng tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung đã trao đổi trực tiếp với các doanh nghiệp và nhà đầu tư nhằm tháo gỡ những khó khăn, chủ động thúc đẩy và khuyến khích đầu tư vào một số vùng, dự án trọng điểm. Chủ tịch giao Sở Xây dựng tiếp nhận hồ sơ dự án của Công ty Nước sạch Hà Nam, phối hợp với huyện Phú Xuyên, Sở Tài Chính để giúp Công ty này cấp nước sạch cho nhân dân trên địa bàn huyện trong thời gian sớm nhất. Công ty Nước sạch số 2 cần kiểm điểm trách nhiệm trong việc sử dụng vật liệu không đúng tiêu chuẩn; khẩn trương phối hợp với huyện Sóc Sơn để cung cấp nước sạch cho nhân dân khu vực xã Nam Sơn. Bên cạnh việc đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy nước sạch mới, các nhà máy nước đã đi vào hoạt động cần nghiên cứu nâng công suất, mở rộng mạng cấp nước, phối hợp để phủ kín địa bàn. Các Công ty cấp nước cần nghiên cứu, tiến tới sớm đưa vào sử dụng đồng hồ nước thông minh để nâng cao năng lực quản lý…

Theo báo cáo của Sở Xây dựng, thời gian qua, để giải quyết nước sạch khu vực nông thôn, UBND TP Hà Nội đã kêu gọi xã hội hóa lĩnh vực đầu tư cấp nước sạch khu vực nông thôn, giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoàn thiện đề án giao công trình cấp nước nông thôn cho doanh nghiệp hoặc hợp tác xã tiếp nhận quản lý. Thành phố đã chấp thuận chủ trương cho 10 nhà đầu tư thực hiện 20 dự án cấp nước cho khu vực nông thôn với phạm vi cấp nước cho 75 xã, hơn 180 nghìn hộ với gần 730 nghìn người dân. Các dự án hoàn thành sẽ nâng tỷ lệ người dân khu vực nông thôn được cấp nước sạch lên khoảng 54%. Từ tháng 6/2016 đến nay, một số dự án cấp nước nông thôn đã được các nhà đầu tư triển khai thực hiện việc cấp nước cho khoảng gần 15 nghìn hộ với khoảng 60 nghìn người dân được cấp nước sạch.


- Theo nguồn HNP-

Các dòng sông ô nhiễm nặng ở Hà Nội tương lai sẽ như thế nào?


“Tập trung xây dựng, triển khai các phương án tạo cảnh quan, xử lý môi trường nước, từng bước làm “sống lại” sông Tô Lịch, sông Tích, sông Nhuệ và sông Đáy” là một trong những mục tiêu cụ thể trong Nghị quyết số 11-NQ/TU.



Trước hết, TP Hà Nội sẽ tập trung chỉ đạo xử lý ô nhiễm nước sông Tô Lịch, bảo đảm dòng chảy vào mùa khô; hoàn thành đúng tiến độ Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ – sông Đáy. Từ nay đến năm 2020, thành phố phấn đấu hoàn thành việc tách nước thải đưa về hệ thống xử lý tập trung trước khi đổ vào hồ, xử lý thành công tất cả các hồ nội thành và các hồ gắn với di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Một số mục tiêu khác là: 100% người dân ở nông thôn được dùng nước sạch; 100% số hộ có các công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn; 100% các khu, cụm công nghiệp hiện đang hoạt động hoàn thành hệ thống xử lý nước thải tập trung, bảo đảm xử lý đạt Quy chuẩn Việt Nam trước khi thải ra môi trường; 100% các bệnh viện và trung tâm y tế do thành phố quản lý có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường…

Ngoài ra, TP Hà Nội xác định mục tiêu đối với chất thải rắn: Tỷ lệ rác thải sinh hoạt được thu gom, xử lý khu vực đô thị đạt 100%; khu vực nông thôn đạt từ 95% đến 100%; phấn đấu giảm tỷ lệ chôn lấp rác thải còn 30%, tăng tỷ lệ rác thải được tái chế theo công nghệ tiên tiến hiện đại. Thành phố cũng phấn đấu thu gom 100%; xử lý 80% chất thải rắn công nghiệp. Thành phố sẽ quy hoạch để đưa các công đoạn sản xuất gây ô nhiễm lớn tại các làng nghề ra khu sản xuất tập trung; yêu cầu xây dựng hệ thống xử lý nước thải trước khi xả ra môi trường đối với số hộ có nghề có nguồn xả thải. Để giảm ô nhiễm bụi, thành phố chỉ đạo 100% các công trường xây dựng phải được che chắn và áp dụng các biện pháp giảm bụi…

Để thực hiện mục tiêu trên, Nghị quyết nêu rõ 3 nhiệm vụ trọng tâm và 4 giải pháp chủ yếu. Trong đó, Ban Thường vụ Thành ủy xác định sẽ tập trung chỉ đạo đầu tư dự án Trạm bơm Liên Mạc giai đoạn 1 đã được phê duyệt, nhằm điều hòa mực nước giữa sông Hồng và sông Nhuệ, tạo nguồn cấp nước cho sông Tô Lịch… Chương trình thu gom và xử lý nước thải của thành phố trên lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy giai đoạn 2017 – 2020 và các chương trình chống ngập, khơi thông dòng chảy tại sông Nhuệ, sông Đáy, sông Tô Lịch, sông Tích… sẽ được chỉ đạo triển khai đồng bộ.

Ps: Green Trees sẽ giám sát tiến trình của các đề án cụ thể theo Nghị quyết số 11-NQ/TU

TP. Đà Nẵng: Cử tri bức xúc vì vấn đề ô nhiễm môi trường tại Hội đồng nhân dân

TP. Đà Nẵng được biết đến là thành phố phát triển nhanh về kinh tế và du lịch của Việt Nam. Tuy nhiên, trong kỳ họp gần đây giữa Hội đồng nhân dân thành phố với các cử tri qua chương trình “Giám sát việc kiến nghị của cử tri”, đã có nhiều ý kiến bức xúc từ phía cử tri phản ánh về những “điểm đen” môi trường đang từng ngày “bức tử” người dân.
Người dân bức xúc chỉ chỗ nước thải ra từ Nhà máy thép Dana -Úc

Ô nhiễm tiếng ồn, khói bụi, chất thải độc hại từ các Nhà máy: Là phản ánh của những cử tri sống ở thôn Vân Dương 2, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng. Từ nhiều năm nay, người dân sống ở thôn Vân Dương 2 rất bức xúc về việc nhà máy thép Dana – Úc và nhà máy thép Dana – Ý xả chất độc, bụi khói và cả tiếng ồn làm ảnh hưởng đến không gian sống của họ. Trước thực trạng đó, mới đây, lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đã có quyết định di dời các hộ dân đang sinh sống gần khu vực các nhà máy trên đến nơi ở khác để đảm bảo sức khỏe và ổn đinh cuộc sống. Theo đó, tiền hỗ trợ cho việc di dời chỗ ở của người dân do hai nhà máy này chi trả ( mỗi doanh nghiệp là 50%). Đồng thời, các doanh nghiệp phải cam kết cùng chính quyền thành phố xây dựng một môi trường sống xanh, sạch, đẹp, không ô nhiễm bằng các cách như trồng nhiều cây xanh, thay đổi công nghệ để tránh sự ô nhiễm từ chất thải, khói bụi từ nhà máy ra môi trường không khí.

Một trong những “họng cống” bốc mùi hôi thối trên con đường ven biển thuộc phường Thọ Quang, Đà Nẵng

Những “họng cống” bốc mùi hôi thối: Là bức xúc của những cử tri sinh sống ven biển Đà Nẵng. Đi dọc theo con đường ven biển Đà Nẵng, kể từ khu vực trung tâm thành phố về phía đỉnh núi Sơn Trà và phố cổ Hội An, có thể bắt gặp nhiều “họng cống” xả thải đen ngòm ra biển Đà Nẵng. Hơn nữa, những “họng cống” này còn bốc mùi hôi thối khó chịu. Mà một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng này là do sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà hàng, khách sạn ở ven bãi biển. Bên cạnh đó là sự tăng nhanh về dân số cơ học, người lao động từ các tỉnh thành tập trung về Đà Nẵng để làm việc, khách du lịch đến với Đà Nẵng tăng lên… Trước những thông tin phản ánh của cử tri, ông Nguyễn Xuân Anh, Bí thư thành ủy thành phố Đà Nẵng đã chỉ đạo cho lãnh đạo quận Sơn Trà và các cơ quan chức năng xuống kiểm tra từng nhà hàng, quán ăn,… trên tuyến đường ven biển thuộc địa phương; Nhà hàng nào không đảm bảo hợp vệ sinh, không có ống hút khói, lọc không khí đảm bảo thì tạm cho dừng hoạt động.
Dòng nước xả thải ra từ côn kênh Phú Lộc có lúc đục ngầu, đen đúa và bốc mùi hôi hám khó chịu

Con kênh “đen” đang ngày ngày “bức tử” thành phố: Cử tri của thành phố Đà Nẵng có phản ánh tình trạng con kênh Phú Lộc nằm trên địa bàn quận Thanh Khê nhưng nhánh chảy của nó dài hàng km chảy qua quận Liên Chiểu. Mà đoạn kênh này là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp ở Hòa Khánh, khu dân cư lao động… Vì vậy, con kênh chính là nơi hứng các nguồn nước xả thải từ khu công nghiệp, khu dân cư trước khi đổ ra biển Đà Nẵng. Điều đó cũng lý giải vì sao nước con kênh luôn có màu xanh đen, đục ngầu và thi thoảng lại thấy cá chết nổi trắng mặt kênh. Chính tình trạng ô nhiễm của con kênh Phú Lộc đã gây nên sự bức xúc kéo dài nhiều năm nay của người dân sống trong khu vực gần con kênh. Mặc dù, thành phố đã tìm nhiều giải pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm của con kênh nhưng kết quả vẫn chưa triệt để và chưa thỏa ý nguyện của người dân. Vậy nên, con kênh Phú Lộc vẫn đang là “điểm đen” môi trường của thành phố Đà Nẵng cần được ưu tiên giải quyết.
                            Những bãi rác tự phát trên vỉa hè Đà Nẵng gây mất mỹ quan đô thị và có mùi hôi thối

Đường phố nhếch nhác, người dân lấn chiếm vỉa hè: Đây là những hình ảnh xuất hiện ngày càng nhiều ở thành phố Đà Nẵng, nơi từng được tự hào là “thành phố đáng sống”, đô thị “Xanh – Sạch – Đẹp”. Nhưng hiện nay thương hiệu này đang mất dần đi bởi lối sống luộm thuộm, cẩu thả của người dân thành phố. Trên các tuyến đường, vỉa hè, ở đâu cũng có rác thải do người dân xả thải bừa bãi. Những khu đất trống trở thành bãi rác tự phát từ lúc nào không hay. Thêm vào đó là đường phố đi lại trở nên chật hẹp, vỉa hè bị lấn chiếm bởi người kinh doanh từ lúc nào. Căn cứ vào những thông tin phản ánh của cử tri, cùng với kết quả kiểm tra thực tế của các cơ quan chức năng, Bí thư Nguyễn Xuân Anh đã chỉ đạo công ty Môi trường đô thị và các xí nghiệp vệ sinh ra quân dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ các tuyến đường quanh thành phố Đà Nẵng.
Lá phổi xanh Sơn Trà bị “đâm nát” bởi sắt thép các dự án du lịch

Lá phổi xanh Sơn Trà bị “đâm nát” bởi sắt thép dự án du lịch: Dãy núi Sơn Trà của TP. Đà Nẵng vốn là điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch trong nước và quốc tế bởi cảnh quan thiên nhiên đa dạng, với nhiều loài động thực vật quý hiếm sinh trưởng và phát triển. Vậy mà, thời gian gần đây, những dự án du lịch đang được xây dựnng ngổn ngang giữa rừng cây xanh bạt ngàn trên đỉnh núi Sơn Trà. Thực trạng này đã khiến nhiều cử tri phải bất thốt lên rằng: Lá phổi xanh Sơn Trà đang bị “đâm nát” bởi sắt thép dự án du lịch. Trước những bức xúc của dư luận, những dự án xây dựng du lịch trên dãy núi Sơn Trà đang được Thủ tướng xem xét. Tuy nhiên, theo nguyện vọng của đông đảo cử tri Đà Nẵng thì nên giữ nguyên rừng cây trên dãy núi Sơn Trà. Và không nên “bê tông” hóa quang cảnh tự nhiên đẹp đẽ của dãy rừng nguyên sinh trên dãy núi Sơn Trà bằng những dự án du lịch.

- Hồng Sơn-

Hãy nhìn Bắc Kinh để thấy tương lai của TP.HCM khi phát triển nhiệt điện vô tội vạ!



Trong khi Trung Quốc vừa hoàn tất đóng cửa tổ máy cuối cùng của nhà máy điện Hoa Năng, phía Nam Bắc Kinh vào ngày 18/03, đưa thành phố này trở thành đô thị đầu tiên trong nước chấm dứt sử dụng năng lượng điện từ than đá. Thì cùng thời điểm trên, người ta lại đề xuất xây dựng hai nhà máy nhiệt điện than ở Long An trị giá 5 tỷ USD ngay sát khu vực gần biển Cần Giờ (TP.HCM), đặt ra mối lo ngại lớn về nguy cơ ô nhiễm môi trường và đe dọa sức khỏe của người dân TP và khu vực.

Chẳng đâu xa, hãy nhìn bầu không khí ô nhiễm, nồng nặc axit của Bắc Kinh để thấy tương lai TP.HCM. Người ta còn nói đùa rằng, tại Bắc Kinh, bầu trời xanh duy nhất chỉ có trên màn hình tivi và trong ký ức của người dân mà thôi. Nếu chọn phát triển nhiệt điện than thì những hệ lụy ô nhiễm môi trường, lẫn thiệt hại kinh tế mà Trung Quốc đã và đang gánh chịu sẽ là tương lai của Việt Nam. Trước đây, tổ chức phi lợi nhuận Carbon Tracker Initiative (trụ sở London) đã đưa ra cảnh báo Trung Quốc có nguy cơ lãng phí gần 500 tỷ USD vào những nhà máy nhiệt điện than mới. Điều này đã trở thành sự thật khi trong hai năm 2016, 2017 Trung Quốc liên tiếp đóng cửa các nhà máy.






     Một nguyên nhân lớn khiến Bắc Kinh ô nhiễm trầm trọng do các nhà máy nhiệt điện xả thải

Còn Việt Nam thì sao? Đến thời điểm hiện tại, không có nước nào phát triển nhiệt điện than nhanh như ở Việt Nam, theo quy hoạch đến năm 2030 cả nước sẽ có 80 nhà máy nhiệt điện than (hiện nay có 20 nhà máy), riêng đồng bằng sông Cửu Long sẽ có 14 nhà máy.

Xây dựng nhiệt điện than là đi ngược lại với xu hướng của thời đại vì nhân loại đang hướng tới năng lượng sạch. Bằng chứng là, ở Châu Âu 109 nhà máy nhiệt điện than đã bị đóng cửa. Ở Mỹ 165 nhà máy nhiệt điện than đã ngưng hoạt động, 179 dự án xây mới bị hủy bỏ. Một số quốc gia cũng đã có lộ trình bỏ các nhà máy nhiệt điện than như Anh đến năm 2025, Pháp đến năm 2023, Canada năm 2030. Trung Quốc, nước sản xuất năng lượng từ than cao nhất thế giới cũng đã đóng cửa nhiều nhà máy nhiệt điện than và ngưng các dự án đang thi công – năm 2016 ngưng 18 dự án điện than, đầu năm 2017 ngưng 85 dự án và mới đây, ngày 18/3 thành phố Bắc Kinh đã cho đóng cửa nhà máy nhiệt điện than cuối cùng.



Hai nhà máy nhiệt điện Long An có vị trí ngay sát TPHCM, đe dọa trực tiếp đến chất lượng không khí và tính mạng của người dân TP

Theo các chuyên gia, việc đặt nhà máy nhiệt điện than ở Cần Giuộc, ô nhiễm không khí TP.HCM sẽ tăng mạnh. TP.HCM có thể thường xuyên bị mù khô, sương mù giống như ở Bắc Kinh (Trung Quốc), thậm chí là mưa a xít.

Nhiệt điện than là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ô nhiễm nguồn nước và không khí. Hiện nay, vấn đề xỉ than và tro bay sau quá trình đốt lên đến cả triệu tấn/năm phải làm thế nào ? Ngay cả nước có công nghệ tiên tiến như Mỹ cũng chỉ xử lý được 40% xỉ than.

Tại Hội thảo “Than và nhiệt điện than: Những điều chưa biết” do Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID), đại diện cho Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) tổ chức ngày 29/9/2014 đã đưa ra một thống kê gây sốc. Tại Việt Nam có khoảng 4.300 người Việt chết yểu liên quan đến nhiệt điện than. Dự báo, khí thải than ở Việt Nam sẽ tăng gấp 3 lần vào năm 2030, nếu không cắt giảm, lượng khí thải được dự báo này có thể dẫn tới cái chết của hơn 25.000 người mỗi năm (kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Harvard). Đó là chưa nói đến chi phí y tế khổng lồ về sức khỏe của người dân.

Hiện nay Trung Quốc đang đóng cửa dần các nhà máy nhiệt điện than và tương lai sẽ bỏ hoàn toàn, nhưng họ lại làm tổng thầu hầu hết các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Công Thương, tính đến tháng 4/2014, Trung Quốc làm tổng thầu trọn gói 15 trong số 20 dự án nhiệt điện đang thi công (chiếm 75%).




                                    Sơ đồ các nhà máy nhiệt điện than tại khu vực ĐBSCL


Có hay chăng việc Trung Quốc sẽ sử dụng thiết bị cũ từ nhà máy đóng cửa, tân trang lại rồi bán cho Việt Nam? Đối với anh bạn phương Bắc thâm hiểm này, không gì là không thể? Và hậu quả tất yếu là ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu, chi phí bảo trì, bảo dưỡng cao…Không phải đợi mười năm, hai mươi năm sau chúng ta mới thấy hậu quả từ sai lầm của chủ trương phát triển nhiệt điện than mà bây giờ nó đã hiện hữu trước mắt – sự cố ô nhiễm tại nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (Bình Thuận) hồi tháng 4 năm 2015 có nguy cơ tái diễn.

Mặc kệ những cảnh báo phát triển nhiệt điện than là đi ngược lại với xu thế thời đại, hay khẳng định của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về việc “Không chấp nhận đánh đổi môi trường vì lợi ích trước mắt”, dường như người ta vẫn bất chấp mọi hậu quả, kể cả mạng sống của người dân để “có năng lượng phát triển kinh tế”? Vì tầm nhìn hạn hẹn hay vì lợi ích một nhóm người nào đó, người ta mặc cho đất nước bị tàn phá, mặc sự sống của người dân. Bài học từ việc phá rừng, xây dựng thủy điện, khai thác boxit, Formosa…còn nóng hổi, vậy tại sao không có sự điều chỉnh?

* PGS-TS Nguyễn Đinh Tuấn, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TPHCM:

Hoạt động nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu than dù có sử dụng công nghệ hiện đại đến đâu đi nữa, cũng có nguy cơ gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường. Những chất thải phát sinh từ hoạt động này chủ yếu sẽ là bụi, thải tro xỉ than, nước thải công nghiệp, chất NOx, SO2… sẽ tác động trực tiếp đến sức khỏe của người dân. Đáng chú ý, với vị trí này, nhà máy nằm ngay hướng đầu nguồn gió Tây Nam thổi về TPHCM nên sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường sống người dân khu đô thị cảng Hiệp Phước, Phú Mỹ Hưng, quận 8 và quận 1. Trên thực tế, những tác hại ô nhiễm môi trường do nhà máy nhiệt điện sử dụng nguyên liệu than đá đã hiện hữu rất rõ. Đơn cử như nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, Duyên Hải và Trà Vinh, những chất gây ô nhiễm khí thải nhẹ thì gây viêm hô hấp, nặng thì gây ung thư cho người dân. Do đó, việc xây dựng nhà máy nằm khu vực đầu nguồn gió TPHCM, cần phải suy xét lại.

* Tiến sĩ Phạm Viết Thuận, Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường (thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật TPHCM):

Đặt vị trí xây nhà máy nhiệt điện giáp ranh với TPHCM là không hợp lý bởi tro xỉ nhiệt điện, khói thải cho dù có đưa lên cao tầng ống khói hơn 3.000 mét thì khi gặp gió Tây Nam đặc trưng của vùng này từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, nhiều khả năng khói thải, tro xỉ sẽ luân chuyển trong không khí phát tán đến các khu đô thị, khu dân cư của TPHCM. Xét về kinh tế môi trường thì xây nhiệt điện ven sông Soài Rạp là không đủ điều kiện, bởi sẽ đánh đổi nhiều giá trị khác về hệ sinh thái, môi trường. Do phát triển nhiệt điện để đáp ứng nhu cầu điện cho vùng kinh tế phía Nam là cần thiết nên có thể tập trung các nhà máy nhiệt điện vào một khu vực, chẳng hạn tập trung phát triển tăng công suất nhiệt điện tại Trà Vinh – nơi có sẵn một số nhà máy nhiệt điện và cảng xuất nhập hiện hữu, dễ mở rộng.

* Các tác động trong suốt vòng đời của một nhà máy điện than siêu tới hạn điển hình 550-MW có kiểm soát ô nhiễm:
• 150 triệu tấn CO2
• 470.000 tấn metan
• 7.800 kg chì
• 760 kg thủy ngân
• 54.000 tấn NOx
• 64.000 tấn SOx
• 12.000 tấn bụi
• 4.000 tấn CO
• 15.000 kg N2O
• 440.000 kg NH3
• 24.000 kg SF6
• hút 420 triệu m3 nước hầu hết từ các nguồn nước ngọt
• tiêu thụ 220 triệu m3 nước
• thải 206 triệu m3 nước thải vào các dòng sông.
(Nguồn: Bộ Năng lượng, Phòng Thí nghiệm công nghệ năng lượng quốc gia Mỹ)


- Minh Trần -

Nói chuyện cây



Hai năm sau câu chuyện 6.700 cây xanh, nỗi ám ảnh của nó vẫn treo lơ lửng trên bầu trời mùa hạ 40 độ của thủ đô Hà Nội.


Hãy điểm lại những gì đã đi vào ký ức của cộng đồng: câu nói bất hủ “Chặt cây mà cũng phải hỏi dân à?”, buổi họp báo kéo dài vỏn vẹn 10 phút với 21 câu hỏi không được trả lời, các biểu ngữ “Tôi yêu cây” quanh hồ Gươm... Vĩnh viễn nằm trong trí nhớ của tôi và tôi tin chắc của nhiều người khác là câu hỏi mang tính hiện sinh sâu sắc: “Mỡ hay vàng tâm?”.

Dự án “Chặt hạ, thay thế 6.700 cây xanh” vì một đô thị “văn minh, hiện đại” đã lặng lẽ bị xếp xó với tất cả những “quy hoạch khoa học và triển khai đúng quy trình” của nó.

Nhưng dường như tới giờ, chính quyền Hà Nội vẫn chưa rút ra được đầy đủ những bài học về minh bạch, về giải trình, về nghệ thuật đối thoại và làm việc với dân, tóm lại, về những gì quan trọng trong quản trị nhà nước, khi tuần qua báo chí liên tiếp đưa tin: “Hàng cây 1.300 gốc sắp bị chặt hạ” và “Hà Nội đề xuất thay thế 4.000 cây xà cừ”.

Lúc thì những cái cây phải nhường chỗ cho “phát triển”. Lúc thì chúng “u bướu”, “cong”, “nghiêng”, “già cỗi”, “thiếu thẩm mỹ”, “rễ nông, dễ đổ” và “các nước tiên tiến không trồng”.

Đã đến lúc phải phân tích sâu hơn các luận điểm này.

Luận điểm đầu tiên: Cây xà cừ không thích hợp với các thành phố nhiệt đới; người Pháp đã sai lầm khi trồng chúng ở Việt Nam; chúng ta đã đúng khi từ những năm 1960 không trồng chúng nữa và bây giờ chúng ta phải triệt hạ chúng hoàn toàn.

Ý kiến này có cơ sở thế nào?

Tên Latin của xà cừ là Khaya senegalensis, khá dễ dàng xác định nó xuất xứ từ châu Phi, nhưng trong thế kỷ 20 đã được trồng rộng rãi ở các quốc gia có khí hậu phù hợp khác.

Sau ba cái nhấn chuột, tôi gặp một tài liệu của Tổ chức quốc tế FAO về những chương trình phủ xanh đô thị của Chính phủ Malaysia từ thập kỷ 1970 tới 1990 nhằm biến đất nước này thành một “Quốc gia - Vườn” (Garden Nation).

Vào những năm 1980, khắp nơi ở Kuala Lumpur người ta tiến hành phương pháp “trồng cây tức thì” (instant tree planting) trồng những thân cây lớn, làm xanh thành phố gần như sau một đêm.

Đoạn giữa tài liệu này có một câu khiến tôi mở to mắt: “Các loài cây không bản địa mang tên Khaya senegalensis được coi là lý tưởng cho chương trình này”. Kèm theo là bức ảnh hàng xà cừ cao hơn nhà ba tầng chạy dọc một con đường đầy xe cộ. Không thấy họ nói gì về chuyện “rễ nông, dễ đổ”.

Ngược lại, theo Trung tâm Nông lâm nghiệp thế giới, xà cừ có bộ rễ cái sâu, chắc và khỏe, khiến chúng chịu hạn và vừa chịu lũ lụt tốt, “có thể trồng được cả ở đất sình lầy”.

Hai cái nhấn chuột tiếp theo đưa tôi tới Singapore. Trang mạng của Vườn bách thảo Singapore (Singapore Botanic Gardens) cho biết về loài Khaya senegalensis như sau: “Xuất xứ: châu Phi nhiệt đới. Loài này đã được du nhập Đông Nam Á hơn một thế kỷ trước.

Vào thập kỷ 1980 tại Singapore, nó trở thành cây đường phố được ưa chuộng vì tốc độ lớn nhanh, dễ ghép và khả năng chịu đựng những điều kiện đô thị khắc nghiệt”.

Thế còn bên ngoài Đông Nam Á thì sao? Tiến sĩ Roger Anold của Trường ĐH North Carolina cho biết: “Khaya senegalensis hay được trồng nhằm mục đích cảnh quan và tiện nghi ở những vùng nhiệt đới tại các lục địa.

Ở Tây Phi, loài cây này đã trở thành cây đô thị quan trọng. Ở Úc, nó được trồng ở thành phố Darwin. Ở tỉnh Hainan, Trung Quốc, nó trở thành một trong những loài cây bóng mát và cây tiện nghi (amenity tree) phổ biến nhất”.

Thuật ngữ “amenity tree” trở đi trở lại. Theo giải thích của tiến sĩ Kim Coder - ĐH Georgia, “amenity tree” (tôi tạm dịch là cây tiện nghi) là một cây có khả năng tăng tính hấp dẫn và sự dễ chịu của không gian xung quanh nó bằng cách “cung cấp sự che chở, an ủi và trợ giúp tâm lý cho con người”, khiến họ “thoải mái và hạnh phúc hơn”.

Vậy là ở nhiều quốc gia khác, cây xà cừ không chỉ được coi là cây bóng mát đơn thuần. Kích thước khổng lồ của nó, cái gồ ghề, sần sùi chính những cái “u bướu”, “cong”, “nghiêng” của nó, những cái làm gai mắt các quan chức Hà Nội, lại khiến nó trở thành nguồn an ủi và che chở cho những cư dân đô thị, là nơi lưu giữ thời gian, ký ức, lịch sử, là cái tạo bản sắc cho nơi chốn, tạo cảm giác thuộc về.

Một gốc cây là một thực thể sống và mang trong mình các yếu tố văn hóa và tâm lý, những thứ khiến nó khác một cột ximăng có mái che.

Trong khi Sở Xây dựng Hà Nội toan loại bỏ cây xà cừ vì chúng mắc tội “già cỗi” thì ở Singapore, cây xà cừ do ông Lý Quang Diệu trồng vào tháng 11-1980 gần hồ Thiên nga (Swan Lake) nay đã cao 48m, được đưa vào danh sách cây di sản (Heritage Tree) cùng hàng trăm cây đầy “u bướu” khác.

Chính sự “già cỗi” của chúng đã biến chúng thành những “landmark” - những cột mốc cảnh quan cần được bảo vệ như những di sản thiên nhiên.


                   Những gốc xà cừ cổ thụ trên đường Phạm Văn Đồng (Hà Nội) -Nam Trần

Quay lại với 1.300 cây dọc đường Phạm Văn Đồng. Thật tiện lợi khi coi chúng là những vật cản trở “phát triển” và “sự thịnh vượng của con người”. Diễn ngôn này đang được dùng để biến thiên nhiên thành máy đẻ lợi nhuận.

Nhưng phát triển không có nghĩa là chặt hạ vô cảm. Giữ cây không có nghĩa là ưa thích đói nghèo, lạc hậu.

Ngược lại, những người không nhìn thấy sự uy nghi của những cánh rừng, không nhìn thấy phẩm giá của những gốc cây già trong thành phố và trân trọng giá trị của chúng trong cuộc sống hiện đại, cho rằng phải loại bỏ chúng để “phát triển”, sẽ có nguy cơ đi theo một đường hướng phát triển méo mó.

Các nhà chức trách Hà Nội sẽ phải có chứng cứ rất tốt, rất đầy đủ để chứng minh cho công luận rằng họ thực sự không có cách nào khác là phải chặt bỏ 1.300 gốc cây kia đi.

Và họ sẽ phải dành nhiều thời gian, không gian để đối thoại với người dân, với các tổ chức xã hội, với các nhà chuyên môn để tìm ra giải pháp tối ưu. Quan điểm cây phải nhường bêtông thì mới văn minh đã lỗi thời.

Một thành phố chỉ đầy cầu vượt, đường trên cao, cao ốc mà thiếu cây xanh, công viên, hồ nước... là một thành phố thảm hại.

Một chiến lược phát triển đô thị mà quên đi những điều này là một chiến lược nuôi dưỡng xung đột và sự bất bình âm ỉ giữa người dân với chính quyền, và tôi không cho rằng đó là di sản mà chính quyền Hà Nội đang hướng tới. 


- Đăng Hoàng Giang -